Printer-friendly version
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



Currently sorted By last update descending Sort chronologically: By last update change to ascending | By creation date

Page:  1  2  3  4  (Next)
  ALL

:

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Theo số liệu của Viện chiến lược và chương trình giáo dục năm 2005 thì có đến 40% trong tổng số trẻ CPTTT có những hành vi bất thường( HVBT). HVBT của trẻ CPTTT không những ảnh hưởng tới chính bản thân trẻ CPTTT mà còn ảnh hưởng tới các học sinh bình thường khác trong lớp và ảnh hưởng đến tiến trình lên lớp, hiệu quả giảng dạy của giáo viên.

Vì vậy việc định hướng các biện pháp quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hoà nhập và thực hiện triệt để các biện pháp quản lí HVBT của học sinh CPTTT là điều cần thiết và cấp bách, đồng thời đảm bảo mục tiêu và tính hiệu quả của giáo dục hoà nhập. Theo nghiên cứu lí luận và kinh nghiệm thực tiễn thì có nhiều phương pháp, nhiều cách để quản lí HVBT của trẻ CPTTT học hoà nhập. Và một trong những phương pháp quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hoà nhập có hiệu quả là sử dụng các quy định của lớp học. Thực tế giáo dục đã chỉ rõ ở nơi nào giáo viên biết cách sử dụng đúng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT thì ở đó chất lượng GDHN cho học sinh CPTTT được nâng cao.

Trường Tiểu học Hải Vân là một trong những trường tiên phong trong lĩnh vực giáo dục hoà nhập của thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh những thành tựu mà nhà trường đã đạt được thì việc quản lí HVBT của học sinh CPTTT học hoà nhập cũng còn nhiều hạn chế. Đó là những lí do mà chúng tôi nghiên cứu đề tài “Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân ”.

2. Mục đích nghiên cứu

Thực trạng sử dụng quy định của lớp học trong việc quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 ở Trường Tiểu học Hải Vân. Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống quy định của lớp học phù hợp để quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hòa nhập có hiệu quả.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 tại Trường Tiểu học Hải Vân – TP.Đà Nẵng.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân.

4. Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc giáo dục quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, học sinh còn có nhiều hành vi không phù hợp, gây mất trật tự trong lớp học. Nếu xây dựng được các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT thì việc giáo dục quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT sẽ hiệu quả hơn, giúp các em học tập tốt hơn.

5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về việc sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh CPTTT.

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân.

- Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 học hòa nhập tại Trường Tiểu học Hải Vân.

5.2. Phạm vi nghiên cứu

- Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1. Phương pháp quan sát

6.2.2. Phương pháp điều tra bằng Anket

6.2.3. Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện

6.2.4. Phương pháp thống kê toán học

TOÀN VĂN KHOA LUẠN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
Keyword(s):
:

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Theo số liệu của Viện chiến lược và Chương trình giáo dục năm 2005 thì có đến 40% trong tổng số trẻ CPTTT có những hành vi bất thường (HVBT). Trong quá trình học, trẻ thường có các hành vi bất thường. Các hành vi này gây ra rất nhiều khó khăn cho giáo viên và học sinh trong lớp.

Vì vậy, trong công tác giáo dục trẻ CPTTT thì một yêu cầu cấp thiết đặt ra đó phải quản lí HVBT cho trẻ CPTTT. Việc quản lí HVBT cho trẻ CPTTT có ý nghĩa vô cùng quan trọng: giúp trẻ hạn chế và khắc phục dần những hành vi không mong muốn, hình thành những hành vi tích cực, giúp cho tiết học không bị gián đoạn, không làm ảnh hưởng tới học sinh xung quanh, hiệu quả giảng dạy được đảm bảo và kết quả học tập của trẻ có sự tiến bộ. Để làm được điều đó người giáo viên cần phải lựa chọn các biện pháp phù hợp để có thể quản lí được hành vi bất thường của trẻ. Thực tế giáo dục đã chỉ rõ: ở nơi nào việc quản lí HVBT cho trẻ CPTTT được thực hiện tốt thì ở nơi đó chất lượng giáo dục hòa nhập được nâng cao.

Trường Tiểu học Hải Vân là một trong những ngôi trường thực hiện giáo dục hòa nhập từ rất sớm và đã đạt được những kết quả nhất định. Thế nhưng hiện nay việc quản lí HVBT cho học sinh CPTTT tại trường còn gặp một số hạn chế như: các hành vi bất thường vẫn diễn ra thường xuyên ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh, các biện pháp mà giáo viên sử dụng chưa mang lại hiệu quả cao… Nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lí hành vi bất thường của trẻ chậm phát triển trí tuệ tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng” nhằm tìm hiểu thực trạng quản lí HVBT của học sinh CPTTT tại trường Tiểu học Hải Vân từ đó đề ra các biện pháp quản lí HVBT cho trẻ CPTTT, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ CPTTT.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm điều tra thực trạng quản lí hành vi bất thường của trẻ chậm phát triển trí tuệ tại trường Tiểu học Hải Vân, từ đó đề ra những biện pháp để quản lí hành vi bất thường cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình chăm sóc, giáo dục cho trẻ CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân - thành phố Đà Nẵng.

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí HVBT cho trẻ CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân - thành phố Đà Nẵng.

4. Giả thuyết khoa học

Hiện nay, việc quản lí HVBT cho trẻ CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân về cơ bản đã được thực hiện. Tuy nhiên, còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, trẻ còn có những hành vi làm mất trật tự và ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục. Nếu áp dụng các biện pháp quản lí HVBT có hiệu quả sẽ giảm thiểu được một số HVBT, không mong muốn, giúp các em học tập tốt hơn và không làm ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục.

5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu các vấn đề lí luận về quản lí HVBT của trẻ CPTTT

- Nghiên cứu thực trạng quản lí HVBT cho trẻ CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng.

- Đề xuất một số biện pháp để quản lí HVBT cho trẻ CPTTT và thực nghiệm biện pháp “Sử dụng phương pháp dạy học có hiệu quả”

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu quản lí HVBT của 14 trẻ CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân và thực nghiệm biện pháp sử dụng phương pháp dạy học có hiệu quả trên 1 học sinh CPTTT học lớp 2/3 – trường Tiểu học Hải Vân.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

- Phân tích và tổng hợp lí thuyết

- Phân loại và hệ thống hóa lí thuyết

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp phỏng vấn, trò chyện

- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ

TOÀN VĂN BÁO CÁO TÓT NGHIỆP LÊ THỊ PHƯƠNG

Keyword(s):
:


BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO

HỌC SINH MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

SVTH: BÙI THỊ NHƯ HUYỀN

Lớp 07SDB, Khoa Tâm lí - giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

GVHD: TS. HUỲNH THỊ THU HẰNG

Khoa Tâm lí - giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

*Lý do chọn đề tài

Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển xâm nhập ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển của trẻ.

HS mắc HCTK ở tiểu học là những HS có những “nét tự kỷ” học trong lớp hòa nhập. Những HS này không được hưởng một phương pháp giáo dục phù hợp do các giáo viên tiểu học chưa thực sự nắm rõ về dạng tật này và chưa có các kiến thức về dạy học hòa nhập cho TTK.

Bên cạnh đó, những HS mắc HCTK này còn gặp rất nhiều khó khăn do HCTK mang lại, đặc biệt là vấn đề khó khăn trong giao tiếp. Điều này gây trở ngại rất lớn trong việc kết bạn, quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động vui chơi, học tập của trẻ dẫn đến trẻ trở nên lạc lõng, chán học và bỏ học…

Tại Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng , một số TTK đã được học hoà nhập. Tuy nhiên, giáo viên và gia đình chưa biết quan tâm, khai thác những nhu cầu giao tiếp ở trẻ, nếu có thì cũng không thường xuyên, phương pháp tiếp cận chưa phù hợp nên khả năng giao tiếp của trẻ còn thấp.

Chính vì những lí do nêu trên, chúng tôi nghiên cứu: “Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn Quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”.

*Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ.

*Khách thể và đối tuợng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục hòa nhập cho HS mắc HCTK ở tiểu học.

- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

*Giả thuyết khoa học

HS mắc HCTK gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp khi học hòa nhập. Nếu GV biết sử dụng các chiến lược giao tiếp phù hợp với TTK; thường xuyên tổ chức các trò chơi phát triển kĩ năng giao tiếp và động viên trẻ tham gia; xây dựng vòng tay bạn bè; phối hợp với phụ huynh lập kế hoạch phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tại gia đình,… thì sẽ phát triển được kỹ năng giao tiếp cho TTK, từ đó giúp trẻ dễ dàng hòa nhập hơn.

*Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục hòa nhập cho HS mắc HCTK.

- Nghiên cứu thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất các biện pháp để phát triển kĩ năng giáo tiếp cho HS mắc HCTK ở các trường Tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng

* Phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên khách thể là HS tiểu học trong các trường tiểu học Hồng Quang, trường tiểu học Hải Vân, trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

* Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu sản phẩm, lấy ý kiến chuyên gia.

* Cấu trúc của đề tài

Đề tài dài 75 trang, bao gồm mở đầu, nội dung và kết luận, với 10 bảng. Ngoài ra, đề tài còn có 2 phụ lục, 14 sách và tài liệu tham khảo.

TOÀN VĂN BÁO CÁO TỐT NGHIỆP BÙI THỊ NHƯ HUYỀN

Keyword(s):
:


MỞ ĐẦU

*Lí do chọn đề tài

Xuất phát từ tình hình trẻ tự kỷ trên thế giới và tại Việt Nam.

Ngày nay, hiện tượng tự kỷ đang là một vấn đề nóng bỏng trong xã hội. Rối loạn tự kỷ xuất hiện ở mọi trẻ em với nhiều dạng khác nhau và làm ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của trẻ.

Mặc dù ngày nay, rối loạn tự kỷ đã không còn xa lại với nhiều người, nhưng nhận thức của mọi người về dạng rối loạn này còn chưa rõ ràng. Trẻ tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn khi tới trường học hòa nhập. Mặc dù trẻ có những khó khăn, hạn chế nhưng một số trẻ vẫn có những khả năng học tập.

Hiện nay, tuy chưa có thống kê nào về số lượng TTK được đi học tại các mô hình trường lớp. Vai trò của người giáo viên hòa nhập rất quan trọng trong việc giúp đỡ trẻ tự kỷ học hòa nhập. Tuy nhiên, hiện nay số lượng và chất lượng giáo viên dạy học hòa nhập còn rất hạn chế.

Quận Liên Chiểu là quận có nhiều trẻ khuyết tật do điều kiện chủ quan và khách quan gây ra. Nhưng chất lượng giáo dục hòa nhập, đặc biệt là năng lực của giáo viên còn đang bỏ ngỏ, chưa có một cuộc khảo sát nào cũng như tìm ra biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn quận.

Với tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học hòa nhập trẻ tự kỷ cho giáo viên tiểu học quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

* Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng về kiến thức, kỹ năng dạy TTK học hòa nhập của giáo viên, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp bồi dưỡng cho giáo viên kiến thức, kỹ năng dạy TTK học hòa nhập.

* Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hòa nhập cho TTK.

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy hòa nhập TTK cho GV tiểu học.

* Giả thuyết khoa học

Kiến thức, kỹ năng DHHN TTK của GV sẽ được nâng cao nếu thực hiện đồng bộ các biện pháp: Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức, kỹ năng DHHN cho GV tiểu học dưới nhiều hình thức; Xây dựng đội ngũ giáo viên hỗ trợ hòa nhập TTK ở các trường tiểu học.

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số lí luận về dạy học hòa nhập TTK.

- Nghiên cứu thực trạng về kiến thức, kỹ năng của giáo viên dạy hòa nhập TTK trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đề xuất những biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho giáo viên dạy hòa nhập TTK.

* Phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên khách thể là giáo viên tiểu học trong các trường tiểu học Hồng Quang, trường tiểu học Hải Vân, trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng.

* Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phỏng vấn sâu, quan sát sư phạm, điều tra hồ sơ trẻ, xin ý kiến chuyên gia

* Cấu trúc khóa luận

Đề tài gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận, với 4 bảng. Ngoài ra, đề tài còn 3 phụ lục, 12 sách và tài liệu tham khảo.

Toàn văn báo cáo tốt nghiệp

Keyword(s):
:


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Người khuyết tật thường phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khó chịu do sự ức chế hoạt động hay do di chứng của khuyết tật gây nên. Việc vận dụng những phương pháp tác động đặc biệt nhằm giúp trẻ giảm bớt những cơn đau, sự khó chịu, sự ức chế trong cơ thể giúp trẻ có cảm giác thoải mái và dễ chịu hơn là hết sức cần thiết. Từ đó, dần dần phục hồi một số chức năng cho trẻ trong việc di chuyển, tự phục vụ. Góp phần vào việc kéo dài thời gian sống cho người khuyết tật.

Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có thống kê cụ thể về số lượng trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng. Mặc dù vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật cũng được quan tâm nhiều; có nhiều chương trình, dự án về trẻ khuyết tật của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ đầu tư. Tuy nhiên, các dự án này chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ về mặt vật chất, giáo dục cho trẻ và gia đình có trẻ khuyết tật. Còn lĩnh vực điều trị và phục hồi chức năng chưa được chú ý nhiều. Một trong số ít những chương trình được thực hiện về lĩnh vực này là chương trình tập huấn “Phương pháp vận động lâm sàng dành cho trẻ khuyết tật” do Nhóm chuyên gia Nhật Bản phối hợp với Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng thực hiện. Phương pháp này đang mở ra một hướng mới đầy triển vọng trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại các cơ sở có trẻ khuyết tật ở thành phố Đà Nẵng nói riêng và ở Việt Nam nói chung.

Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng”.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng để đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho, góp phần vào việc phát triển phương pháp này theo hướng lâu dài tại Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể

Quá trình trị liệu trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.

3.2. Đối tượng

Phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ trẻ khuyết tật Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng.

4. Giả thuyết khoa học

Hầu hết các cán bộ giáo viên đều nhận thức được vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho và vận dụng phương pháp này sau khi được tập huấn. Việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bước đầu đã mang lại hiệu quả . Tuy nhiên, do các cán bộ giáo viên chưa nắm vững kiến thức, kĩ năng của phương pháp này và thời gian thực hành còn hạn chế nên hiệu quả vận dụng của phương pháp trị liệu Dosaho đạt được chưa cao, số lượng học sinh được trị liệu còn hạn chế.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm cơ bản, lý luận về trẻ khuyết tật, về lý thuyết Dosaho và cơ sở vận dụng của phương pháp này, các bài tập Dosaho.

5.2. Khảo sát việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướng lâu dài tại thành phố Đà Nẵng.

6. Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chỉ nghiên cứu việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật vận động, trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ tự kỷ tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh thành phố Đà Nẵng.

7. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ của đề tài. Đồng thời, tiến hành dịch một số tài liệu về phương pháp Dosaho để nghiên cứu cơ sở lý thuyết và cơ sở vận dụng của phương pháp.

7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn cán bộ giáo viên theo 2 hình thức (cá nhân và nhóm) để khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho.

* Phương pháp quan sát

Sử dụng phiếu quan sát để đánh giá quá trình tiến hành thực hiện phương pháp Dosaho. Quan sát để đánh giá sự tiến bộ của trẻ.

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy của cán bộ giáo viên, nghiên cứu hồ sơ trẻ được lập vào tháng 9/2010.

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để đánh giá tình trạng hiện tại của trẻ. Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu với hồ sơ trước đây.

8. Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài gồm 2 chương.

Toàn văn khóa luận

Bản tóm tắt 15 trang

Báo cáo PP

Bìa phụ

Keyword(s):
DuongThiNhuMo.rar
:

THÁI ĐỘ CỦA PHỤ HUYNH HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN ĐỐI VỚI GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

THE ATTENDENTCE OF PARENT IN HIGHTSCHOOL NGUYEN THUONG HIEN WITH SEX EDUCATION

SVTH: Dương Thị Như Mơ

Lớp 06CTL

GVHD: Th.s Lê Thị Phi

TÓM TẮT

Trong gia đình giáo dục giới tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của học sinh. Thông qua đề tài này sẽ giúp phụ huynh có thái độ tích cực hơn về giáo dục giới tính cho các em.

SUMMARY

In the family, the parent are role necessery with sex education for student development. Thought with survey, it help the parent have attend better than sex education.

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Giáo dục giới tính có ý nghĩa quan trọng đối với học sinh THPT, nhất là trong thời đại đang có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin, và sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Vì vậy trong gia đình cha mẹ là những người hướng dẫn quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của các em đối với sự phát triển của chính bản thân mình.

Chính vì vậy tôi chọn đề tài : “Thái độ của phụ huynh học sinh
trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.”.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thái độ của phụ huynh học sinh trung học phổ thông ở trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính .

Làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp nhằm xây dựng thái độ tích cực của phụ huynh học sinh về giáo dục giới tính cho học sinh trung học phổ thông.

3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát.

Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính

Khách thể nghiên cứu : Phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền

Đối tượng khảo sát: Khảo sát trên 100 phụ huynh học sinh của trường THPT Nguyễn Thượng Hiền

4. Giả thuyết khoa học

Phụ huynh học sinh trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thượng Hiền đã có những hiểu biết nhất định về giáo dục giới tính cho học sinh THPT. Tuy nhiên sự hiểu biết này còn hạn chế. Phụ huynh chưa nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục giới tính nên còn ngại ngùng và chưa có ứng xử hợp lý trong giáo dục giới tính cho con em.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về giáo dục giới tính và thái độ của phụ huynh học sinh đối với giáo dục giới tính.

Tìm hiểu thực trạng thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.

Trên cơ sở đó đề xuất một biện pháp giúp cho phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền có thái độ tích cực đối với giáo dục giới tính.

6. Phạm vi nghiên cứu.

Do điều kiện hạn chế, trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu thái độ cha mẹ của học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

a/ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket).

b/ Phương pháp phỏng vấn

c/ Phương pháp thống kê toán học.

PHẦN NỘI DUNG

Chương I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề “Thái độ của phụ huynh đối với giáo dục giới tính”.

1.1.1 . Trên thế giới

1.1.2 .Ở Việt Nam

1.2. Những khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài.

1.2.1. Cơ sở lý luận chung về thái độ

1.2.1.1. Khái niệm thái độ

1.2.1.2. Đặc điểm của thái độ

1.2.1.3. Cấu trúc thái độ

1.2.1.4. Chức năng thái độ

1.2.1.5. Phân loại thái độ

1.2.2. Lý luận về học sinh THPT

1.2.3. Lý luận về giáo dục giới tính

1.2.3.1. Khái niệm về giáo dục giới tính

1.2.3.2. Nội dung của giáo dục giới tính

1.2.3.2.1. Khái niệm về giới tính và các mối quan hệ

1.2.3.2.2. Những thay đổi về tâm sinh lý của lứa tuổi THPT

1.2.3.2.3. Khái niệm về tình yêu

1.2.3.2.4. Khái niệm về tình dục và sức khỏe sinh sản

1.2.3.3. Giáo dục giới tính trong trường phổ thông

1.2.4. Vai trò của giáo dục giới tính đối với học sinh THPT

1.2.5. Những tác hại và nguyên nhân khi học sinh thiếu kiến thức về giáo dục giới tính.

1.2.6. Những vấn đề lý luận về “Thái độ của phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính”

1.2.6.1. Khái niệm phụ huynh học sinh.

1.2.6.2. Khái niệm thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.

Thái độ của phụ huynh đối với giáo dục giới tính cho học sinh THPT là những đánh giá, những phản ứng tích cực hoặc tiêu cực của phụ huynh đối với khái niệm, nội dung cũng như vai trò của GDGT.

Biểu hiện thái độ đối với giáo dục giới tính cho học sinh THPT là:

Nhận thức của phụ huynh về các vấn đề: Khái niệm, nội dung và vai trò của phụ huynh đối với giáo dục giới tính.

Tình cảm xúc cảm: Biểu hiện ở xúc cảm tích cực như bình tĩnh trao đổi với con em, thoải mái, tự nhiên hoặc những xúc cảm tiêu cực như sự tức giận, lạnh lùng, ngại ngùng đối với giáo dục giới tính.

Hành vi ứng xử của phụ huynh đối với con cái trong giáo dục giới tính như chủ động trò chuyện với con về giới tính, chấp nhận tôn trọng ý kiến cũng như không cấm đoán răn, đe khi giáo dục giới tính cho các em.

1.2.6.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền về giáo dục giới tính.

Chương II: PHƯƠNG PHÁP VÀ QUI TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp điều tra nghiên cứu:

1.1 Phương pháp phân tích , tổng hợp lý thuyết

1.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket)

1.3 Phương pháp phỏng vấn

1.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

2. Qui trình tổ chức nghiên cứu

2.1 Qui trình chọn mẫu

2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

2.3 Địa điểm tiến hành

2.4 Người tiến hành

2.5 Cách tiến hành

Chương III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt nhận thức.

Tổng hợp những nội dung cơ bản nhất chúng tôi có kết quả sau: Đa số phụ huynh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đạt mức độ nhận thức cao (loại A) chiếm 48.3%, tiếp theo là mức độ nhận thức trung bình với 36%. Còn lại mức độ nhận thức kém – loại C (17.5%), con số này cũng cho thấy vấn đề phụ huynh chưa nhận thức rõ về giáo dục giới tính nên diễn ra tình trạng các em học sinh còn thắc mắc và lo lắng về vấn đề giới tính, tình dục, tình yêu.

3.2. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt xúc cảm.

Thông qua kết quả nghiên cứu cho thấy phụ huynh học sinh trường Nguyễn Thượng Hiền có xúc cảm tích cực chiếm 70.3%, và chỉ có 30.7% phụ huynh còn xúc cảm tiêu cực. Nam giới có xúc cảm tích cực cao hơn nữ giới.

3.3. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt hành vi.

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung phụ huynh có hành vi tích cực (51.2%) cao hơn tiêu cực (49.3%), tuy nhiên sự chênh lệch là rất thấp. Nên hành vi tích cực của phụ huynh chỉ ở mức trung bình. Thể hiện ở bảng 20.

Hành vi của nữ giới tích cực hơn nam giới chiếm 58.6.% trong khi nam giới là 42.8%, và hành vi của nam giới tiêu cực hơn nữ giới. Đã được thể hiện qua bảng 21.

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thêm các phương pháp phỏng vấn và quan sát để tìm hiểu thêm thái độ của phụ huynh.

3.4. Tổng hợp chung về thái độ của phụ huynh đối với giáo dục giới tính.

Nhìn chung phụ huynh có thái độ tích cực chiếm 37.6% - Loại A, thái độ chưa tích cực 43.5% và có đến 18.8% phụ huynh còn mang thái độ tiêu cực đối với giáo dục giới tính.

Tổng hợp lại vấn đề cho thấy tuy phụ huynh có nhận thức, có xúc cảm tích cực về giáo dục giới tính cho học sinh THPT, nhưng mặt hành vi ứng xử của phụ huynh lại không thể hiện được tính nhận thức và mức độ xúc cảm của phụ huynh một cách tương ứng.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ

1.Kết luận

2.Khuyến nghị


TOÀN VĂN ĐỀ TÀI

Keyword(s):
VoThiNha.rar
:

ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU DU LỊCH CỦA KHÁCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG KHI ĐẾN ĐÀ NẴNG

THE CHARACTER ABOUT THAI LAN VISITOR’NEEDS BELONG TO THE PROMOTIVE TRAVELLING CENTRE OF DA NANG WHEN THEY CAME

DA NANG CITY

SVTH: Võ Thị Nhã

Lớp 06CTL

GVHD: Th.s Tô Thị Quyên

TÓM TẮT

Đối với Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng hiện nay thì việc tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch Thái Lan là rất cần thiết. Thông qua đề tài này, giúp Trung Tâm có những giải pháp trong việc tổ chức các chương trình du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách Thái Lan khi đến Đà Nẵng.

SUMMARY

With The Promotive Travelling Centre Of Da Nang now, Meeting the needs of Thai Lan visitor is very necessary. Through this survey, It will help the centre have the solutions give the tour programs to satify their’ needs about the services when they visit Da Nang City.

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng là một trung tâm có uy tín trong lĩnh vực du lịch của thành phố, chuyên tổ chức các tour cho du khách khi đến đây. Hàng năm,Trung tâm đã đón tiếp hàng trăm lượt khách du lịch. Trong đó có một lượng không nhỏ khách du lịch đến từ Thái Lan. Mặc dù, Trung tâm đã có kinh nghiệm trong việc tổ chức các chương trình du lịch cho du khách quốc tế nhưng đối với thị trường tiềm năng như Thái Lan trong thời gian tới thì cần có những nghiên cứu để khai thác một cách tốt nhất.

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài : “Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu của khách du lịch Thái Lan thuộc Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng khi đến Đà Nẵng”.

2. Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch Thái lan thuộc TTXTDLĐN

- Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp thiết kế các sản phẩm du lịch đồng thời xây dựng và triển khai các chiến dịch xúc tiến hướng vào thị trường khách du lịch Thái Lan.

3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu của khách du lịch Thái Lan khi đến Đà Nẵng

3.2Khách thể nghiên cứu

- Khách du lịch Thái Lan thuộc TTXTDLĐN khi đến tham quan du lịch Đà Nẵng.

- Hướng dẫn viên tiếng Thái thuộc trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng

3.3 Đối tượng khảo sát

- 150 Khách du lịch Thái Lan và 6 Huớng dẫn viên tiếng Thái thuộc TTXTDLĐN

4. Giả thuyết khoa học

- Nhu cầu của khách du lịch Thái Lan thuộc Trung tâm xúc tiến du lịch Đà nẵng khá phong phú, mức độ đòi hỏi cao

- Khả năng chi tiêu của du khách Thái tại Đà Nẵng không nhiều

- Khả năng quay lại Đà Nẵng của khách Thái cao

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận theo khía cạnh tâm lý học về nhu cầu của du khách

Tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch Thái Lan thuộc TTXTDLĐN

Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tổng hợp và phân tích lí luận

6.2Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn .

6.3 Phương pháp toán học: Thống kê và xử lí số liệu

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

I. Các khái niệm cơ bản

1. Các vấn đề lí luận về Nhu cầu

1.1 Một số quan niệm về nhu cầu

1.2Khái niệm nhu cầu

Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu của con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.

1.3Phân loại nhu cầu

Hệ thống nhu cầu của con người rất đa dạng, có nhiều cách phân loại khác nhau:

Một trong những học thuyết được nhắc đến nhiều nhất là lí thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow. Và cũng là cách phân loại phù hợp với nội dung đề tài nghiên cứu.

1.4 Đặc điểm của nhu cầu

Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng:

Nhu cầu có tính ổn định:

• Phương thức thỏa mãn nhu cầu:

Trạng thái ý chí- cảm xúc:

Nhu cầu có tính chu kì:

1.5 Sự hình thành nhu cầu

2. Các vấn đề lí luận về du lịch và khách du lịch (du khách)

2.1 Du lịch

2.1.1 Khái niệm du lịch

Theo I.I Pỉôgiơnic (1985 – Liên xô cũ) Thuật ngữ du lịch bao gồm 3 nội dung:

- Cách thức sử dụng thời gian nhàn rỗi ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên .

- Một dạng chuyển cư đặc biệt tạm thời .

- Một ngành kinh tế phi sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa xã hội của người dân.

2.1.2 Các loại hình du lịch

a. Phân loại theo nhu cầu của du khách

b.Phân loại dựa vào nơi cư trú.

c. Phân loại căn cứ vào cách tổ chức du lịch:

2.1.3 Nhu cầu du lịch của con người

Nhu cầu du lịch là một nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần ( nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức và giao tiếp).

2.2 Khách du lịch(du khách)

2.2.1 Khái niệm khách du lịch

Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến nơi có điều kiện để nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe, tham quan, vãn cảnh, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức cái mới lạ , hoặc kết hợp việc nghỉ ngơi với hội họp, kinh doanh, nghiên cứu khoa học…

2.2.2 Phân loại khách du lịch

a. Khách du lịch

b. Khách tham quan

2.2.3 Các nhu cầu của khách du lịch

a. Nhu cầu vận chuyển

b. Nhu cầu ở và ăn uống

c. Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí

d. Các nhu cầu khác

II. Tổng quan về điều kiện du lịch Đà Nẵng và Trung tâm xúc tiến du lịch ĐN

1. Những tiềm năng du lịch Đà Nẵng

1.1 Vị trí và tiềm năng du lịch của thành phố Đà Nẵng

1.2 Tiềm năng về sản phẩm du lịch

a. Các khu điểm du lịch, loại hình du lịch và chương trình tour phong phú

b. Cơ sở vật chất du lịch

1. 3 Tình hình khách đến tham quan du lịch Đà Nẵng năm 2009

1. 4 Kế hoạch và hướng phát triển trong thời gian đến.

1.5 Tình hình đầu tư phát triển các dự án du lịch.

2. Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng

III. Đặc điểm tâm lý của khách du lịch Thái Lan

Chương II: PHƯƠNG PHÁP VÀ QUI TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp điều tra nghiên cứu:

1.1 Phương pháp phân tích , tổng hợp lý thuyết

1.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket)

1.3 Phương pháp phỏng vấn

1.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

2. Qui trình tổ chức nghiên cứu

2.1 Qui trình chọn mẫu

2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

2.3 Địa điểm tiến hành

2.4 Người tiến hành

2.5 Cách tiến hành

Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN THUỘC TTXTDLĐN KHI ĐẾN ĐÀ NẴNG

A. NGUỒN THÔNG TIN KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG KHI ĐI DU LỊCH ĐÀ NẴNG

1. Theo điều tra khách du lịch Thái Lan

Nguồn thông tin về du lịch Đà Nẵng được khách du lịch Thái Lan tham khảo chủ yếu là họ tham vấn bạn bè và các công ty, đại lý du lịch.

B. ĐẶC ĐIỂM VỀ NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG

1. Một số đặc điểm cơ bản của nhóm khách du lịch Thái Lan thuộc Trung Tâm Xúc Tiến Du Lịch Đà Nẵng

1.1. Về khu vực địa lý: Đa số khách du lịch đến từ vùng Đông Bắc và Trung Thái Lan

1.2. Về giới tính, độ tuổi: Khách khách du lịch Thái Lan đến Đà Nẵng nam chiếm đa số( gấp gần 3 lần so với du khách nữ).Theo quan sát của đa số các HDV thì phần lớn các du khách Thái Lan đến Đà Nẵng ở độ tuổi trung niên

1.3 . Về nghề nghiệp

1.4. Về số lần đến Đà NẵngCó 82,3% (112 khách) đến Đà Nẵng lần đầu tiên, 10,8% (15khách) đến lần thứ 2 và có rất ít khách đến nhiều hơn 2 lần.

1.5 Mục đích chuyến đi và nguyên nhân chọn tham quan Đà Nẵng

1.5.1 Mục đích chuyến đi

Không nằm ngoài dự kiến thì theo điều tra cho thấy: đa phần khách Thái Lan đến Đà nẵng với mục đích du lịch thuần túy.

1.5.2 Nguyên nhân khách Thái Lan chọn Đà Nẵng làm điểm tham quan

36,8% chọn Đà Nẵng vì nơi đây có nhiều điểm tham quan du lịch. 24,5%cho rằng họ đến Đà Nẵng để cảm nhận nét văn hoá riêng biệt của thành phố.Với những nguyên nhân tìm đến Đà Nẵng của du khách vừa được trình bày ở trên, thời gian lưu lại Đà Nẵng không nhiều, trung bình khoảng gần 2 ngày

1.6 Các hoạt động được du khách Thái Lan ưa thích trong chuyến đi đến ĐN

Shopping là hoạt động được các du khách Thái Lan yêu thích nhất

2. Đặc điểm sử dụng các dịch vụ du lịch của khách du lịch Thái Lan

2.1 Loại hình và cấp hạng khách sạn lưu trú

Khách sạn là loại hình lưu trú được coi là phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của khách Thái Lan nhất .Về cấp hạng khách sạn, thật đáng ngạc nhiên khi rất nhiều khách Thái Lan chọn các khách sạn 4-5 sao để lưu trú .

2.2 Hình thức tổ chức chuyến đi:Chủ yếu mua chương trình tour tại các công ty du lịch,

2.3 Các điểm tham quan ngoài Đà Nẵng

3. Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các dịch vụ du lịch

3.1 .Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các đặc điểm của cơ sở lưu trú:Trong các tiêu chí, khách Thái Lan coi trọng giá cả nhất.

3.2 Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các đặc điểm của cơ sở ăn uống: Khác với việc ở, khi đi ăn uống, khách Thái Lan rất quan tâm đến sự vệ sinh của nhà hàng

3.3 Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các hoạt động vui chơi, giải trí: Với các du khách được điều tra thì họ tỏ ra rất ưa thích những hoạt động như du thuyền trên sông Hàn và xem các trò chơi bản xứ.

3.4 Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các sản phẩm mà khách du lịch Thái Lan quan tâm khi mua sắm:Họ cho thấy sự quan tâm khá cao đến hàng lưu niệm, đồ mỹ nghệ.

4. Đánh giá chung về khả năng chi tiêu cho chuyến đi của khách du lịch Thái Lan

C. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ QUAY TRỞ LẠI ĐÀ NẴNG CỦA KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG

Qua số khách du lịch Thái Lan được điều tra tại Trung tâm thì có có 91 khách (chiếm 67,4%)có ý định quay lại Đà Nẵng

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

2. Khuyến nghị

. Tài liệu tham khảo

TOÀN VĂN


Keyword(s):
NguyenThiBaoTram.rar
:

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

THE SOME COMMUNICATION’S CHARACTERISTICS OF DEPARTMENT PEDALOGY’S STUDENTS – TAY NGUYEN UNIVERSITY

PHẠM THỊ MƠ

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

NGUYỄN THỊ BẢO TRÂM

Lớp 06 CTL – Khoa Tâm lý – Giáo dục

TÓM TẮT

Bài viết tập trung nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản trong giao tiếp của sinh viên khoa sư phạm, trường Đại học Tây Nguyên ở các mặt: nhu cầu, nội dung, kỹ năng giao tiếp,và trên cơ sở kiến nghị các biện pháp giúp nhà trường sư phạm tổ chức các hoạt động nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên

ABSTRACT

The article is concentrated on the some characteristics of department pedalogy students – Tay Nguyen university’s communication in the fields of communication’s need, content, skills, and based on petition the ways help teacher’s university to organize the activites enhance communication skill for students.

1. Đặt vấn đề

Giao tiếp là mặt đặc trưng nhất trong hành vi của con người, nó không những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách mà còn đảm bảo cho con người đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động.

Đối với nghề dạy học, giao tiếp không những có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên mà còn là một bộ phận cấu thành hoạt động sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên. Do đó, vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủ động tự chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp sư phạm, để khi bước vào nghề họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết ngay được những tình huống trong giao tiếp sư phạm. Nhà trường sư phạm là nơi thực hiện nhiệm vụ này.

Đại học Tây Nguyên là một trường đào tạo đa ngành nghề, trong đó có nghề sư phạm. Số lượng sinh viên của trường đông, trong đó có những sinh viên thuộc các dân tộc ít người, với đặc điểm văn hóa khác nhau, phong cách sinh hoạt, giao tiếp khác nhau.

Qua kết quả tiếp xúc sơ bộ cho thấy, nhiều sinh viên của trường còn e dè, thiếu chủ động, thiếu mạnh dạn trong học tập và các hoạt động khác. Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều và một trong các nguyên nhân. phải kể tới đó là năng lực giao tiếp còn hạn chế của sinh viên. Muốn nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên sư phạm thì phải nắm được đặc điểm giao tiếp của họ. Đó là lý do, khiến tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên khoa sư phạm- Trường Đại học Tây Nguyên” nhằm góp phần đưa ra cơ sở khoa học để có giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường đối với ngành sư phạm.

2. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 300 sinh viên khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên trong học kì II – 2010 bằng cách sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu tâm lý như: các phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp trắc nghiệm tâm lý, điều tra viết, quan sát, phỏng vấn và các phương pháp thống kê toán học. Các kết quả nghiên cứu chính như sau:

2.1. Về nhu cầu giao tiếp của sinh viên khoa SP, Trường ĐHTN

Để đo nhu cầu giao tiếp của sinh viên, chúng tôi sử dụng trắc nghiệm P.O do trường Đại học Sư phạm Leenin (Liên Xô cũ) soạn thảo và thu được kết quả như sau:

Kết quả như sau: SV có nhu cầu giao tiếp ở mức độ dưới trung bình chiếm 75.33%. Cho thấy số lượng SV khoa SP có mức độ nhu cầu giao tiếp không cao.

- Xét theo giới tính cả nam và nữ có nhu cầu giao tiếp ở mức độ trung bình thấp chiếm (40.41%; 37.66%). Mức độ nhu cầu giao tiếp giữa nam và nữ SV khoa sư phạm có sự chênh lệch nhau ở các mức độ (P<0.05).

- Khi so sánh các năm học thì ở mức độ trung bình thấp, thấp có chênh lệch nhau ở năm I và năm IV, trong đó năm IV cao hơn năm I. Ở mức độ cao, TB cao không có sự tăng lên. Điều này cho thấy: nhu cầu giao tiếp của sinh viên không hề được thay đổi theo hướng phát triển qua quá trình học tập rèn luyện ở nhà trường. Chứng tỏ việc tổ chức các hoạt động rèn luyện của nhà trường không hề phát triển được nhu cầu giao tiếp cho sinh viên.

- Khi xét theo ngành học thì nhận thấy các ngành SV đều có nhu cầu giao tiếp ở mức độ trung bình thấp

2.2. Nội dung giao tiếp

+ Trong đó về nội dung, phương pháp học tập được SV xếp thứ bậc I, =1.7, thuộc mức độ thường xuyên, chiếm tỷ lệ cao nhất . Có thể thấy đây là nội dung giao tiếp rất được quan tâm, vì hoạt động chủ đạo của SV là học tập và rèn luyện để phục vụ cho nghề nghiệp của bản thân. Nội dung rèn luyện tay nghề sư phạm của SV xếp vị trí thứ ba ĐTB =1.47, ở mức độ thường xuyên. Chỉ có 149 SV chiếm 49,67% thường xuyên rèn luyện. Trong đó chủ yếu thuộc sinh viên năm thứ ba và thứ tư. Nội dung tình bạn, tình yêu mức độ trung bình là 1.29, ở mức độ đôi khi.

2.3. Kỹ năng giao tiếp của SV khoa SP, Trường ĐHTN

2.3.1. Mức độ kỹ năng giao tiếp

Trong tổng số 300 SV được khảo sát, xếp theo mức độ thì không có SV nào xếp loại giỏi, SV xếp loại trung bình chiếm phần lớn: 81%, loại khá 7% và yếu là 12%. Điều này cho thấy kỹ năng giao tiếp của SV chưa cao, tương đồng với mức độ nhu cầu giao tiếp. SV loại yếu còn chiếm tỷ lệ nhiều sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc rèn luyện kỹ năng cho bản thân, nhất là SV SP.

* Xét theo giới tính thì cho thấy: ở nam và nữ đều có khả năng giao tiếp ở mức trung bình (nam 80.14% ;nữ 81.82%), ở các mức độ KNGT có sự chênh lêch ở nam và nữ, tuy nhiên sự chênh lêch này không quá lớn. (P>0.05).

* Xét theo ngành học, ở các ngành học khác nhau, SV có sự khác nhau trong mức độ kỹ năng giao tiếp.

* Xét theo khoá học, giữa các năm học ít có sự khác nhau, mức độ kỹ năng giao tiếp của SV cũng có sự chênh lệch, cụ thể:

- Ở mức độ khá: SV năm IV có sự khác nhau với SV năm I: SV năm IV mức độ cao hơn năm I 6.96% (P=0.01), Trải qua bốn năm học, thông qua việc học tập và rèn luyện tại trường, đã có nhiều bạn SV hình thành cho mình KNGT tốt hơn SV năm I, đây cũng là điều hiển nhiên

2.3.2. Mức độ từng kỹ năng giao tiếp

Từng KNGT chung của SV đạt mức trung bình, không có KNGT nào đạt loại giỏi, không có ai đạt điểm “lý tưởng” (16điểm). Chúng tôi tính mức độ của từng cá nhân, sau đó xếp theo mức độ của mỗi kỹ năng.

- Nhóm kỹ năng có điểm trung bình cao nhất trong 10 nhóm KNGT của SV là sự nhảy cảm trong giao tiếp với, điểm trung bình 1.65, đạt mức khá. Chỉ số này chứng tỏ khả năng nắm bắt trạng thái tâm lý người khác ở SV cao, SV có khả năng “đọc” trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói để phát hiện chính xác đầy đủ thái độ, cảm xúc của đối tượng giao tiếp, từ đó đoán đúng nội tâm của đối tượng.

- Xếp thứ bậc thấp nhất là nhóm biết cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tượng trong khi tiếp xúc với điểm trung bình là 0.69, đạt mức trung bình. SV chưa biết cần bằng giữa nhu cầu của mình và nhu cầu của đối tượng giao tiếp. Trong quá trình nói chuyện với bạn bè chưa chú ý đến nhu cầu, sở thích của họ, không quan tâm đến ý đồ của người tiếp xúc mình.

Từ kết quả phân tích ở trên, chúng ta có thể nêu lên nhận định: KNGT của SV khoa SP –Trường ĐHTN chưa cao, chỉ đạt mức trung bình. Trong đó cao nhất là sự nhạy cảm trong giao tiếp và thấp nhất là sự cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tượng trong khi tiếp xúc. Mức độ chênh lệch về điểm số giữa các kỹ năng là không có ý nghĩa (P>0.05).

Những KNGT rất cần cho hoạt động sư phạm như: khả năng cần bằng giữa nhu cầu cá nhân và nhu cầu người khác hay khả năng nghe đối tượng giao tiếp, xây dựng thiết lập mối quan hệ, khả năng làm chủ cảm xúc, hành vi đạt ở mức độ chưa cao, điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình dạy học sau này.

2.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến đặc điểm giao tiếp của SV

Trong đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra viết và đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến đặc điểm giao tiếp của SV như sau:

- Bản thân sinh viên chưa tích cực hoạt động rèn luyện mặc dù họ nhận thức được sự cần thiết phải rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.

Nhận thức của SV về yêu cầu nghề nghiệp, chúng tôi thu được kết quả từ câu hỏi 1 như sau: SV có nhận thức đúng yêu cầu nghề nghiệp cần có đó là: vừa học tập tốt chuyên môn, vừa tích cực rèn luyên nâng cao nghiệp vụ sư phạm, với 247 SV lựa chọn chiếm 82.33%

Đánh giá tích cực hoạt động của SV:

+ SV ít chú tâm đến các hoạt động diễn ra, với 237 SV chiếm 79% cho rằng “ít quan tâm” đến các hoạt động. Điều này đáng lo ngại, trong khi số lựa chọn “rất quan tâm” chiếm vị trí ít 5%.

+Khi tiến hành điều tra sự tích cực tham gia các hoạt động thì có đến 139 SV chiếm 46.33% tham gia cho có lệ. Bắt buộc và không tham gia chiếm đến 29.67%, trong khi đó số lượng SV chủ động tham gia là ít 24%.

- Hoạt động rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên của nhà trường và khoa chưa được quan tâm đúng mức nội dung hoạt động chưa phong phú.

Sự đánh giá khác nhau của sinh viên về việc tổ chức các hoạt động của nhà trường cho thấy nhà trường đã có tổ chức hoạt động nhằm nâng cao KNGT cho SV. Tuy nhiên việc tổ chức các hoạt động chắc chắn chưa nhiều, chưa thực sự hấp dẫn lôi cuốn sinh viên tham gia nên các em không biết đến hoạt động do nhà trường hoặc khoa tổ chức, không tham gia nên chủ yếu lựa chọn đáp án thỉnh thoảng (43.67%) và rất ít (19.33%).

- Đặc điểm khí chất của sinh viên cũng là nguyên nhân dẫn đến mức độ nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của sinh viên chưa cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm khí chất cũng ảnh hưởng đến nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của SV. Đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu giao tiếp khiến nhiều bạn có nhu cầu giao tiếp thấp, từ đó có tác động tới việc nâng cao kỹ năng giao tiếp của SV, số đông lựa chọn nằm ở SV năm I.

Trên cơ sở thực trạng đã trình bày, chúng tôi đưa ra các biện pháp, để các biện pháp phát huy hiệu quả, chúng tôi đưa ra các kiến nghị sau:

* Đối với sinh viên

- Khi đã nhận thức đầy đủ những yêu cầu của nghề nghiệp thì SV cần thực hành nó thông qua các hoạt động.

- Nhiều bạn SV, nhất là SV năm thứ nhất còn ngượng ngùng, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động SV cần tìm hiểu các hoạt động đang diễn ra nào phù hợp với mình, nắm bắt cơ hội để thể hiện tài năng, ban đầu sẽ rất khó khăn những qua nhiều lần tập luyện sẽ hình thành thói quen và nâng cao được nhu cầu, kỹ năng giao tiếp.

- Hơn ai hết chính SV phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân không chỉ chuyên môn mà nghiệp vụ nhằm hình thành cho mình những năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng với nghề nghiệp trong tương lai.

* Đối với nhà trường sư phạm

Nhà trường sư phạm cần nhận thấy được vị trí quan trọng của mình trong quá trình hình thành và phát triển giao tiếp của SV.

- Ngay từ thời kì đầu SV mới bước vào trường cần phải xác định được nhu cầu giao tiếp và khả năng giao tiếp của SV, trên cơ sở đó có những biện pháp tác động, điều chỉnh kịp thời, có những cách thức rèn luỵên phù hợp.

- Cần thường xuyên tổ chức các hình thức rèn luyện sao cho tạo sự hứng thú, thu hút đông đảo SV tham gia. Các hoạt động được diễn ra mang đậm dấu ấn đặc thù riêng của nghề thầy giáo.

- Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cần phải hợp tác phối hợp tổ chức các hoạt động giao tiếp, tạo điều kiện mở rộng phạm vi giao tiếp của SV. Khi tổ chức các hoạt động giao tiếp cho SV phải chú ý đến những sắc thái riêng về đặc điểm giới tính, khoá học và chuyên ngành đào tạo.

3. Kết luận

Những kết quả của nghiên cứu cho phép đi đến kết luận rằng giao tiếp là một mặt không thể thiếu được trong quá trình học tập và rèn luyện trong nhà trường sư phạm. Nhà trường sư phạm cần nhận thức rõ vai trò của mình để có kế hoạch phù hợp trong đào tạo cũng như các hoạt động nhằm nâng cao nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của sinh viên

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hoàng Anh (chủ biên) (2004), Giáo trình tâm lý học giao tiếp, NXB ĐHSP.

[2] Đào Thị Oanh (2002), Nhu cầu giao tiếp cuối bậc tiểu học, Tạp chí tâm lý học, Số10

[3] Lê Thị Bừng (chủ biên) (2003), Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, NXB ĐHSP.

[4] Nguyễn Thị Diễm (2008), Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Quảng Trị, Tạp chí khoa học và công nghệ, ĐHĐà Nẵng. Số 2

[5] Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh (1998), Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục.

[6] Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[7] Ngô Công Hoàn (chủ biên) (1997), Những trắc nghiệm tâm lý, Tập II, Trắc nghiệm về nhân cách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[8] Lê Văn Hồng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội.

[9] Nguyễn Xuân Thức - Phạm Thành Nghị (1993), Một số vấn đề giao tiếp sư phạm, Tạp chí tâm lý học, Số 10

[10] Giáo trình giao tiếp sư phạm (2006), Trường Đại học SP TDTT TP HCM. NXB TDTT Hà Nội.

[11] Nguyễn Quang Uẩn (2004), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục

[12] B.Ph.LoMov (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học, Nhà xuất bản Hà Nội.

TOÀN VĂN KHÓA LUẬN

Keyword(s):
NguyenLapTruong.rar
:

NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN QUẬN LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

RESEARCH ATTITUDE YOUTH LIEN CHIEU – TP. DA NANG TO PREVENTION AND ANTI – DRUG

 NGUYỄN THỊ KIM XUÂN

 Trường Đại học Sư phạm, Đại học Dà Nẵng

NGUYỄN LẬP TRƯỜNG

 Lớp 06 CTL – Khoa Tâm lý – Giáo dục

TÓM TẮT

Đề tài tập trung nghiên cứu thái độ của thanh niên quận Liên Chiểu – TP. Đà Nẵng trên ba mặt: nhận thức, tình cảm và hành vi. Từ đó đề xuất những kiến nghị phù hợp góp phần định hướng thái độ đúng đắn, tích cực cho thanh niên trong công tác phòng, chống ma túy.

ABSTRACT

Topic focus of yoth attitudes Lien Chieu – TP. Da Nang three aspects: cognitive, emotional and behavior. Since then propose recommendations consistent orientation contribute right attitude, positive youth in prevention and fight against drugs.

1. Đặt vấn đề

Ma túy là một tệ nạn xã hộ nguy hiểm, phương thức hoạt động tinh vi, nhiều thủ đoạn. Vì vậy việc phòng, chống hết sức khó khăn. Ma TN đang là nạn nhân chính của tệ nạn này (chiếm 80% người nghiện).TN là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Vị trí của TN là lực lượng xung kích cách mạng; công tác TN là vấn đề sông còn của dân tộc. Và trong công tác PCMT TN cũng là lực lượng xung kích. Tham gia tích cực vào công tác PCMT TN sẽ có những kiến thức, sự hiểu biết về tác hại của ma túy, giáo dục họ những kĩ năng sống để họ tự ra quyết định cho chính bản thân mình về việc phòng và chống ma túy có hữu hiệu. Đồng thời họ cũng góp phần đẩy lùi tệ nạn ma túy. Nhưng trong thực tế nhiều TN chưa tích cực tham gia công tác PCMT. Hơn nữa, vấn đề thái độ của TN đối với công tác PCMT chưa được nghiên cứu nhiều. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu thái độ của thanh niên quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đối với công tác phòng, chống ma túy” để nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần định hướng thái độ đúng đắn, tích cực cho TN quận Liên Chiểu trong công tác PCMT đạt hiệu quả.

2. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 165 TN quận Liên Chiểu – TP. Đà Nẵng từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2010 bằng cách sử dụng nhiều phối hợp hệ thống các phương pháp. Các kết quả nghiên cứu chính như sau:

2.1. TĐ của TN quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng đối với công tác PCMT

 3.1.1. TĐ chung của TN đối với công tác PCMT (Xem bảng 3.1)

Kết quả tại bảng 3.1 cho thấy: Đa số TN được chọn nghiên cứu có TĐ khá tích cực đối với công tác PCMT. Tỷ lệ TN đạt TĐ đối với công tác PCMT loại A (Rất tích cực) và loại B (Tích cực) chiếm tỷ lệ cao (Loại A: 41 TN, chiếm 24.8%; Loại B: 115 TN, chiếm 69.7%)

 Đi sâu nghiên cứu chúng tôi nhận thấy:

TĐ biểu hiện qua các mặt nhận thức, tình cảm, hành vi, trong đó mặt nhận thức của TN tốt hơn hai mặt kia, điểm trung bình là 3.47 đạt mức “Rất tốt”.

3.1.2. TĐ của TN đối với công tác PCMT (Kết quả xử lý theo giới tính)( Xem bảng 3.2)

Theo tự đánh giá của những TN được chọn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cả nam và nữ có thứ bậc 3 mặt của TĐ giống nhau. Cụ thể mặt nhận thức tốt nhất tiếp đến là mặt tình cảm, cuối cùng là mặt hành vi. Song nam TN có TĐ tích cực hơn nữ TN. Điểm trung bình TĐ đối với công tác PCMT của nam TN cao hơn nữ TN (ĐTB 3.25 so với ĐTB 3.14). Dùng công thức kiểm định sự khác biệt, tính t = 0.17, cho thấy sự khác biệt của hai giới.

3.2. TĐ của TN quận Liên Chiểu đối với công tác PCMT thể hiện qua các mặt

 3.2.1. TĐ của TN quận Liên Chiểu đối với công tác PCMT thể hiện qua mặt nhận thức

  3.2.1.1. TĐ của TN đối với công tác PCMT biểu hiện qua mặt nhận thức về khái niệm, tác hại, nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý, ý nghĩa của công tác PCMT (Xưm bảng 3.3)

Theo ý kiến đánh giá tổng hợp của TN: Đa số TN đạt mức độ nhận thức tốt ( Loại A) và nhận thức khá (Loại B). Có 43.7 % TN đạt mức loại A và 52.7% TN đạt mức loại B.

3.2.1.2. TĐ của TN đối với công tác PCMT biểu hiện qua mặt nhận thức về khái niệm, tác hại, nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý, ý nghĩa của công tác PCMT (Kết quả xử lý theo giới tính):

 Qua bảng 3.4 chúng tôi phân tích, thống kê về nhận thức của nam và nữ và thu được kết quả sau:

  Nhận thức khái niệm về ma túy và về tầm quan trọng của PCMT giữa nam và nữ ít có sự chênh lệch nên chúng tôi cho rằng ít có sự khác nhau. Nhận thức tác hại về ma túy có sự khác nhau giữa nam và nữ, thể hiện ở tỷ lệ nữ đạt mức độ loại A (Nhận thức tốt) và mức độ loại B (Nhận thức khá) chiếm tỷ lệ cao hơn nam (65.5% so với 28%).

3.2.1.3. TĐ của TN biểu hiện qua mặt nhận thức về tầm quan trọng của công tác PCMT (Xem bảng 3.5)

Kết quả thu được tại bảng 3.5 cho thấy các nội dung PCMT đều được TN giá rất cao mức “Rất quan trọng” (ĐTB >3.25). Sở dĩ TN đánh giá rất cao tầm quan trọng các nội dung PCMT này có thể vì những nội dung này dễ thực hiên đối với mọi TN, nhanh thấy và dễ đánh giá kết quả.

3.2.1.4. TĐ của TN biểu hiện qua nhận thức về tầm quan trọng của các hình thức PCMT

Qua bảng 3.5 cho thấy: TN tự đánh giá nhận thức của họ về tầm quan trọng của các hình thức PCMT với ĐTB trên 3.25 ở mức “Rất quan trọng”.

3.2.2. Thái độ biểu hiện qua mặt tình cảm của TN đối với công tác PCMT

3.2.2.1. Thái độ biểu hiện qua hứng thú của TN quận Liên Chiểu các nội dung, hình thức PCMT (Kết quả xử lý chung. (Xem bảng 3.7)

Qua kết quả bảng 3.7, chúng tôi thấy: Đa số TN đạt mức “Rất tích cực” (loại A) và mức “ Tích cực” (loại B). Điểm trung bình hứng thú của TN đối với các nội dung, hình thức PCMT là 3.18- Đạt mức “Thích”.

3.2.2.2. TĐ biểu hiện qua mức độ hứng thú của TN đối với nội dung và hình thức PCMT (Xét theo gới tính) (Xem bảng 3.8)

Qua bảng 3.8: Chúng tôi nhận thấy cả nam và nữ TN đều có tình cảm tích cực đối với nội dung và hình thức PCMT, thể hiện mức độ: ĐTB >3.25 đạt mức độ “Rất thích” các nội dung và hình thức PCMT, trong đó các hình thức PCMT được đánh giá cao hơn.

3.2.3.Thái độ biểu hiện qua hành vi của TN đối với công tác PCMT

 3.2.3.1.TĐ biểu hiện qua hành vi của TN đối với công tác PCMT (Kết quả xử lý chung)

Theo ý kiến đánh giá tổng hợp của TN quận Liên Chiểu: Đa số TN đạt mức “Rất tích cực” (loại A) chiếm tỷ lệ 24.4% và “Tích cực” (loại B) chiếm tỷ lệ 55.2%, có 20% chiếm tỷ lệ “Ít tích cực” (loại C).

 3.2.3.2. TĐ của TN biểu hiện qua mặt hành vi đối với các nội dung, hình thức PCMT (Xét theo giới tính)

- Về mức độ thường xuyên: Mức độ tham gia vào các nội dung PCMT ở nam thường xuyên hơn, thể hiện tỷ lệ đạt loại A và B chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, nam chiếm tỷ lệ 88% còn nữ chiếm tỷ lệ 74.7%. Còn về mặt hình thức không có sự khác biệt nhiều.

- Về mức độ tích cực: Mức độ tham gia vào nội dung và hình thức PCMT của hai giới trái ngược nhau. Nam tham gia tích cực vào các nội dung

3. Kết luận

- Đa số TN quận Liên Chiểu –TP Đà Nẵng có TĐ tích cực đối với công tác PCMT. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số TN vẫn còn có TĐ chưa tích cực đối với công tác PCMT. Trong 3 mặt của TĐ mặt nhận thức có biểu hiện tốt nhất, tiếp đến là mặt tình cảm, biểu hiện kém nhất là mặt hành vi. Điều này cho thấy TN đã có nhận thức và tình cảm tốt nhưng chưa chuyển hóa thành hành vi tích cực trong công tác PCMT. TN đánh giá cao và có TĐ đối với các nội dung, hình thức phù hợp với họ, đó là những nội dung, hình thức được tổ chức thường xuyên, hấp dẫn, dễ tham gia và ít tốn kém.

- TĐ của nam TN tích cực hơn nữ TN đối với công tác PCMT. Có sự khác biệt này là do đặc điểm tâm sinh lý của hai giới, cũng như sự quan tâm, cách nhìn nhận và sự tham gia của hai giới là khác nhau.

4. Kiến nghị

 - Đối với bản thân: Ma túy là một tệ nạn xã hội rất nguy hiểm mà đối tượng bọn tội phạm hướng đến chủ yếu là TN vì vậy bản thân mỗi TN phải có ý thức, trách nhiệm cùng với cộng đồng tham gia vào công tác này nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ tệ nạn này.

 - Đối với các cơ quan, tổ chức nơi có TN học tập, lao động: Cần thường xuyên tổ chức các hoạt động PCMT tập trung, liên tục với các nội dung, hình thức phù hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ph. Lomov (2000), Những vấn đề lý luận và Phương pháp Tâm lý học, NXB ĐHQGHN, HN (Bản dịch từ tiếng Nga – Nguyễn Đức Hưởng, Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa).

[2] Hipho và Phovec. M (1984), Nhập môn Tâm lý học xã hội, NXB KHXH (Đức Huy dịch).

[3] Lê Thị Duyên (2009), Thái độ của người dân phường Hoà Khánh Nam, quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng về vấn đề bạo lực gia đình đối với người phụ nữ, Khoá luận tốt nghiệp.

[4] Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Chính tri quốc gia, HN

[5] Hồ Thị Thuý Hằng (2009), Nhu cầu và động cơ thành đạt của thanh niên quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng, Khoá luận tốt nghiệp.

[6] Lê Văn Hồng (2007), Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội

[7] Nguyễn Thị Thuý Hường (2007), Thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng sư phạm, Luận văn tiến sĩ Tâm lý học, Bộ GD &ĐT, Viện chiến lược và Chương trình giáo dục.

[8] Trần Hiệp (1996), Tâm lý học xã hội- Những vấn đề lý luận, NXB KHXH, HN

[9] Trần Hiệp, Đổ Long (1991), Sổ tay Tâm lý học, NXB KHXH, HN

[10] Bùi Văn Huê (2003), Tâm lý học Xã hội, NXB ĐHQGHN, HN

[11] Phạm Minh Hạc (2001), Tuyển tập Tâm lý học, NXB Giáo dục, HN

[12] Triệu Thị Hải (2009), Thái độ của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng đối với hoạt động phòng chống ma tuý, Khoá luận tốt nghiệp

[13] Phan Thị Mai Hương, Thanh niên nghiện ma tuý: Nhân cách và hoàn cảnh xã hội, NXB Khoa học Xã hội.

[14] Nguyễn Đức Hưởng (1998), Nghiên cứu thái độ học tập của SV Đại học An ninh nhân dân, Luận văn thạc sĩ TLH, Viện Khoa học GD, Hà Nội.

[15] Vũ Thị Nho (2005), Tâm lý học phát triển, NXB ĐHQG HN, HN

[16] Trần Trọng Thủy (2006), Khoa học chẩn đoán tâm lý, NXBGD, HN

[17] Dương Thiệu Tống (2005), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB KHXH, HN

TOÀN VĂN KHÓA LUẬN

Keyword(s):
NguyenVietHung.rar
:

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Stress là vấn đề của con người ở mọi thời đại và dường như đó là một phần tất yếu không thể tránh được trong cuộc sống của mỗi người. Bởi vậy, dù muốn hay không muốn chúng ta cũng phải học cách sống chung với nó.

Năm 1992, tổ chức Liên Hợp Quốc đã đưa ra một bản báo cáo mang tên “Bệnh tật trong thế kỷ XX”. [8, trang 7]. Trong đó, có việc cảnh báo stress có thể mang nhiều nguy cơ gây hại cho cuộc sống của con người ở thế kỷ XXI. Những rối loạn tâm thần, thường cũng do stress gây ra như: các rối loạn lo âu ám sợ; phản ứng với stress trầm trọng và các rối loạn sự thích ứng...

Stress nói chung là trạng thái căng thẳng về tâm lý. Stress xuất hiện ở con người nói chung và trong cuộc sống, trong hoạt động học tập của học sinh nói riêng, có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đến hiệu quả hoạt động học tập của họ.

Theo một nghiên cứu gần đây “Stress trong học tập của học sinh THPT” của Phạm Thanh Bình, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội phần lớn số học sinh được điều tra đang ở mức độ báo động có tới 143/150 học sinh, chiếm 95,23% học sinh trong tổng số học sinh được điều tra (tức là từ 60 đến 90 điểm) theo phân loại của Soly – Bensabal.

Như vậy, stress của học sinh hiện nay là vấn đề báo động, nếu như chúng ta không có những biện pháp và hướng giải quyết khoa học thì để lại những hậu quả khôn lường không chỉ đối với chính những học sinh đó mà cả gia đình và xã hội.

Đã có nhiều nghiên cứu về stress và cũng như mối liên hệ giữa stress với các yếu tố khác như stress với ung thư, stress với nhận thức hay stress với nghề nghiệp,... Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về mối liên hệ giữa khí chất và stress, nhất là mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT.

Với tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh”. Đề tài không những cho chúng ta biết được thực trạng các kiểu khí chất và stress, mối liên hệ giữa khí chất và stress mà cả xu hướng stress của các kiểu khí chất, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp giúp học sinh phòng chống stress phù hợp với kiểu khí chất của mình.


TOÀN VĂN ĐỀ TÀI

Keyword(s):

Page:  1  2  3  4  (Next)
  ALL