Printer-friendly version
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


Browse the glossary using this index

Special | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N | O
P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z | ALL

Page:  1  2  3  4  (Next)
  ALL

0

:

Phần 1: Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài

Hoạt động của con người là hoạt động có đối tượng, có ý thức. Hoạt động đó luôn được thúc đẩy bởi những động cơ nhất định. Đó là những động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người. C. Mác đã khẳng định: “con người ta sẽ không làm bất cứ điều gì, nếu nó không liên quan đến nhu cầu, động cơ của họ”. Các động cơ không chỉ định hướng, thúc đẩy hoạt động của con người mà còn làm cho hành vi, hoạt động của con người mang một ý nghĩa chủ quan, cá nhân. Nhìn bề ngoài, cũng một hành vi, hành động giống nhau nhưng lại mang những động cơ khác nhau, thậm chí đối lập nhau và tất nhiên phải được đánh giá khác nhau. Trong hệ thống động cơ của con người, ĐCTĐ giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy con người nỗ lực vươn tới những thành công.

TN là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về công tác TN trong thời kỳ mới đã khẳng định: “TN là lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng TN, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ TN”. Lứa tuổi TN là lực lượng hậu bị của đất nước. Đây là độ tuổi mà mỗi cá nhân khởi đầu quá trình thực sự chủ động và tích cực tham gia vào đời sống xã hội hoặc đã trải qua quá trình đó chưa lâu về mặt thời gian. Hoạt động chủ đạo của TN là học tập. Nếu như động cơ nảy sinh, hình thành trong hoạt động sống của cá nhân thì ĐCTĐ của TN được nảy sinh, hình thành, phát triển trong chính quá trình TN tiến hành hoạt động học tập, lao động.
Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, áp dụng cơ chế quản lý theo cơ chế thị trường. Để đáp ứng sự phát triển của đất nước trong tình hình kinh tế, chính trị - xã hội như hiện nay, TN cần phải có trình độ cao, năng động, luôn đổi mới và có hoài bão, có khát vọng vươn lên. Đồng thời, bối cảnh kinh tế - xã hội cũng là điều kiện khách quan thúc đẩy sự phát triển ĐCTĐ ở mỗi con người, nhất là ở TN. Tuy nhiên, trên thực tế, một bộ phận TN vẫn có tư tưởng an phận, luôn bằng lòng với những gì mình đạt được; không nỗ lực vươn lên để đạt được thành công, kết quả cao nhất trong công việc…Nếu một đất nước, hay nhỏ hơn là một công ty, một cơ quan…mà tập hợp nhiều người như vậy thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến năng suất, hiệu quả công việc, sẽ kìm hãm sự phát triển. Mặt khác, cùng với những nét đặc thù của tâm lý lứa tuổi thì tính chất khởi đầu của giai đoạn này đã làm cho nhu cầu tự khẳng định bản thân trong cộng đồng được phần lớn TN ý thức rất rõ và mong muốn được đáp ứng nó ở TN cũng rất lớn. Nhưng thực tế cho thấy rất nhiều nhà quản lý trong các tổ chức, cơ quan nơi TN làm việc chưa hiểu rõ đặc điểm tâm lý này của họ, chưa tin tưởng họ và chưa có biện pháp tâm lý khích lệ họ nên một số TN không có sự nỗ lực phấn đấu trong công việc. Vấn đề đặt ra ở đây là phải tích cực hóa hơn nữa ĐCTĐ của TN, để làm được điều đó, nhất thiết phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về loại động cơ này.
Việc nghiên cứu ĐCTĐ của TN không chỉ có ý nghĩa lý luận mà nó còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn, bởi vấn đề động cơ nói chung và ĐCTĐ nói riêng giữ vị trí quan trọng trong cấu trúc nhân cách, là cơ sở để lý giải các lực thúc đẩy hành vi con người. Nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, có hệ thống về ĐCTĐ của TN sẽ cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này, từ đó có thể đề ra những hướng phát triển phù hợp cho TN trong hoạt động học tập và lao động của họ. Tuy nhiên, những nghiên cứu về ĐCTĐ ở lứa tuổi TN của Việt Nam hiện nay chưa nhiều. Các nghiên cứu chỉ mới chỉ ra một số đặc điểm của ĐCTĐ, các yếu tố ảnh hưởng…mà ít quan tâm đến sự khác nhau của ĐCTĐ trên cơ sở giới tính; mối tương quan giữa ĐCTĐ với nhu cầu thành đạt, với và MĐLSTB.
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của khu vực miền Trung. Đây là nơi đào tạo, chuẩn bị lực lượng lao động cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Bên cạnh đó, Quận Liên Chiểu là trung tâm điển hình cho sự khác biệt về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa của TN vì ở đây tập trung một số lượng lớn TN đang sinh sống và làm việc. Tuy nhiên, trên địa bàn quận Liên Chiểu nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung hầu như chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này. Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu ĐCTĐ của TN cư trú trên địa bàn quận Liên Chiểu”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu ĐCTĐ của TN cư trú trên địa bàn quận Liên Chiểu – Thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất những khuyến nghị cần thiết để tích cực hóa ĐCTĐ của TN.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: ĐCTĐ của TN cư trú trên địa bàn quận Liên Chiểu.
3.2. Khách thể nghiên cứu: TN cư trú trên địa bàn quận Liên Chiểu.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Nội dung:
- Nghiên cứu mức độ biểu hiện của ĐCTĐ của TN, sự khác nhau về mức độ biểu hiện của ĐCTĐ trên cơ sở giới tính.
- Tìm hiểu mối tương quan giữa ĐCTĐ với NCTĐ và sự lo sợ thất bại.
- Tìm hiểu một số nhân tố ảnh hưởng tới ĐCTĐ của TN.

3.3.2. Thời gian: Từ tháng 2 năm 2009 đến tháng 5 năm 2009

3.3.3. Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 5 phường thuộc quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng.
4. Giả thuyết khoa học
- ĐCTĐ của TN cư trú trên địa bàn quận Liên Chiểu nhìn chung ở mức độ trung bình.
- ĐCTĐ của TN chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau như NCTĐ, sự lo sợ thất bại, quan niệm về sự thành đạt trong cuộc sống, một số đặc điểm nhân cách, môi trường…trong đó, NCTĐ và sự lo sợ thất bại có mối tương quan chặt chẽ với ĐCTĐ.
- Có sự khác nhau giữa các nhóm khách thể về mức độ biểu hiện ĐCTĐ và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận về vấn đề ĐCTĐ của TN, xây dựng cơ sở lý luận cần thiết cho việc thực hiện đề tài.
5.2. Xác định và đánh giá mức độ biểu hiện của ĐCTĐ, tìm hiểu mối quan hệ giữa ĐCTĐ và NCTĐ, MĐLSTB; tìm hiểu sự khác nhau của ĐCTĐ giữa các nhóm khách thể; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ĐCTĐ của TN cư trú trên địa bàn quận Liên Chiểu. Đây là nhiệm vụ chủ yếu của đề tài.
5.3. Dựa vào kết quả nghiên cứu thực tiễn đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm góp phần tích cực hóa ĐCTĐ của TN.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp trắc nghiệm.
6.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
6.2.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Keyword(s):
:

Thực trạng rối nhiễu hành vi của học sinh trường trung học cơ sở Kim Đồng- Quận hải Châu- Thành phố Đà Nẵng

The state of behavior disorder of student at Kim Dong secondary school, Hai Chau District, Da Nang city

 Sinh viên: Bùi Thị Huệ

SUMMARY

Chăm sóc sức khoẻ tâm lý, tâm thần cho học sinh là vấn đề cần được quan tâm .Đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hiện nay đã và đang xuất hiện một số hiện tượng bất bổn về tâm lý dẫn đến các hành vi sa ngã, phạm tội . Rối nhiễu hành vi cũng là một vấn đề nổi bật trong học đường được xã hội chú ý quan tâm. Vì vậy cần phải có phương hướng điều chỉnh và giải pháp giups ngăn chặn và đẩy lùi những rối nhiễu hành vi không đáng có ở thanh thiếu niên nhất là độ tuổi học sinh trung học cơ sở.

Taking care of students in physical and mental terms is a major concern. Especially, this matter is highly noticed when social proplems as behavior disoder learding to wrong doing and social criminals are becoming popular. Behavior disorder is outstanding matter at every school so it’s so important to take measures to present such behavior disorder among secondary students.

Toàn văn khóa luận tốt nghiệp

DuongThiNhuMo.rar
:

THÁI ĐỘ CỦA PHỤ HUYNH HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN ĐỐI VỚI GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

THE ATTENDENTCE OF PARENT IN HIGHTSCHOOL NGUYEN THUONG HIEN WITH SEX EDUCATION

SVTH: Dương Thị Như Mơ

Lớp 06CTL

GVHD: Th.s Lê Thị Phi

TÓM TẮT

Trong gia đình giáo dục giới tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của học sinh. Thông qua đề tài này sẽ giúp phụ huynh có thái độ tích cực hơn về giáo dục giới tính cho các em.

SUMMARY

In the family, the parent are role necessery with sex education for student development. Thought with survey, it help the parent have attend better than sex education.

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Giáo dục giới tính có ý nghĩa quan trọng đối với học sinh THPT, nhất là trong thời đại đang có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin, và sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Vì vậy trong gia đình cha mẹ là những người hướng dẫn quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của các em đối với sự phát triển của chính bản thân mình.

Chính vì vậy tôi chọn đề tài : “Thái độ của phụ huynh học sinh
trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.”.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thái độ của phụ huynh học sinh trung học phổ thông ở trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính .

Làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp nhằm xây dựng thái độ tích cực của phụ huynh học sinh về giáo dục giới tính cho học sinh trung học phổ thông.

3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát.

Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính

Khách thể nghiên cứu : Phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền

Đối tượng khảo sát: Khảo sát trên 100 phụ huynh học sinh của trường THPT Nguyễn Thượng Hiền

4. Giả thuyết khoa học

Phụ huynh học sinh trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thượng Hiền đã có những hiểu biết nhất định về giáo dục giới tính cho học sinh THPT. Tuy nhiên sự hiểu biết này còn hạn chế. Phụ huynh chưa nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục giới tính nên còn ngại ngùng và chưa có ứng xử hợp lý trong giáo dục giới tính cho con em.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về giáo dục giới tính và thái độ của phụ huynh học sinh đối với giáo dục giới tính.

Tìm hiểu thực trạng thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.

Trên cơ sở đó đề xuất một biện pháp giúp cho phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền có thái độ tích cực đối với giáo dục giới tính.

6. Phạm vi nghiên cứu.

Do điều kiện hạn chế, trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu thái độ cha mẹ của học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

a/ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket).

b/ Phương pháp phỏng vấn

c/ Phương pháp thống kê toán học.

PHẦN NỘI DUNG

Chương I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề “Thái độ của phụ huynh đối với giáo dục giới tính”.

1.1.1 . Trên thế giới

1.1.2 .Ở Việt Nam

1.2. Những khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài.

1.2.1. Cơ sở lý luận chung về thái độ

1.2.1.1. Khái niệm thái độ

1.2.1.2. Đặc điểm của thái độ

1.2.1.3. Cấu trúc thái độ

1.2.1.4. Chức năng thái độ

1.2.1.5. Phân loại thái độ

1.2.2. Lý luận về học sinh THPT

1.2.3. Lý luận về giáo dục giới tính

1.2.3.1. Khái niệm về giáo dục giới tính

1.2.3.2. Nội dung của giáo dục giới tính

1.2.3.2.1. Khái niệm về giới tính và các mối quan hệ

1.2.3.2.2. Những thay đổi về tâm sinh lý của lứa tuổi THPT

1.2.3.2.3. Khái niệm về tình yêu

1.2.3.2.4. Khái niệm về tình dục và sức khỏe sinh sản

1.2.3.3. Giáo dục giới tính trong trường phổ thông

1.2.4. Vai trò của giáo dục giới tính đối với học sinh THPT

1.2.5. Những tác hại và nguyên nhân khi học sinh thiếu kiến thức về giáo dục giới tính.

1.2.6. Những vấn đề lý luận về “Thái độ của phụ huynh học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính”

1.2.6.1. Khái niệm phụ huynh học sinh.

1.2.6.2. Khái niệm thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính.

Thái độ của phụ huynh đối với giáo dục giới tính cho học sinh THPT là những đánh giá, những phản ứng tích cực hoặc tiêu cực của phụ huynh đối với khái niệm, nội dung cũng như vai trò của GDGT.

Biểu hiện thái độ đối với giáo dục giới tính cho học sinh THPT là:

Nhận thức của phụ huynh về các vấn đề: Khái niệm, nội dung và vai trò của phụ huynh đối với giáo dục giới tính.

Tình cảm xúc cảm: Biểu hiện ở xúc cảm tích cực như bình tĩnh trao đổi với con em, thoải mái, tự nhiên hoặc những xúc cảm tiêu cực như sự tức giận, lạnh lùng, ngại ngùng đối với giáo dục giới tính.

Hành vi ứng xử của phụ huynh đối với con cái trong giáo dục giới tính như chủ động trò chuyện với con về giới tính, chấp nhận tôn trọng ý kiến cũng như không cấm đoán răn, đe khi giáo dục giới tính cho các em.

1.2.6.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền về giáo dục giới tính.

Chương II: PHƯƠNG PHÁP VÀ QUI TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp điều tra nghiên cứu:

1.1 Phương pháp phân tích , tổng hợp lý thuyết

1.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket)

1.3 Phương pháp phỏng vấn

1.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

2. Qui trình tổ chức nghiên cứu

2.1 Qui trình chọn mẫu

2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

2.3 Địa điểm tiến hành

2.4 Người tiến hành

2.5 Cách tiến hành

Chương III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt nhận thức.

Tổng hợp những nội dung cơ bản nhất chúng tôi có kết quả sau: Đa số phụ huynh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đạt mức độ nhận thức cao (loại A) chiếm 48.3%, tiếp theo là mức độ nhận thức trung bình với 36%. Còn lại mức độ nhận thức kém – loại C (17.5%), con số này cũng cho thấy vấn đề phụ huynh chưa nhận thức rõ về giáo dục giới tính nên diễn ra tình trạng các em học sinh còn thắc mắc và lo lắng về vấn đề giới tính, tình dục, tình yêu.

3.2. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt xúc cảm.

Thông qua kết quả nghiên cứu cho thấy phụ huynh học sinh trường Nguyễn Thượng Hiền có xúc cảm tích cực chiếm 70.3%, và chỉ có 30.7% phụ huynh còn xúc cảm tiêu cực. Nam giới có xúc cảm tích cực cao hơn nữ giới.

3.3. Thái độ của phụ huynh học sinh THPT trường Nguyễn Thượng Hiền đối với giáo dục giới tính được thể hiện ở mặt hành vi.

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung phụ huynh có hành vi tích cực (51.2%) cao hơn tiêu cực (49.3%), tuy nhiên sự chênh lệch là rất thấp. Nên hành vi tích cực của phụ huynh chỉ ở mức trung bình. Thể hiện ở bảng 20.

Hành vi của nữ giới tích cực hơn nam giới chiếm 58.6.% trong khi nam giới là 42.8%, và hành vi của nam giới tiêu cực hơn nữ giới. Đã được thể hiện qua bảng 21.

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thêm các phương pháp phỏng vấn và quan sát để tìm hiểu thêm thái độ của phụ huynh.

3.4. Tổng hợp chung về thái độ của phụ huynh đối với giáo dục giới tính.

Nhìn chung phụ huynh có thái độ tích cực chiếm 37.6% - Loại A, thái độ chưa tích cực 43.5% và có đến 18.8% phụ huynh còn mang thái độ tiêu cực đối với giáo dục giới tính.

Tổng hợp lại vấn đề cho thấy tuy phụ huynh có nhận thức, có xúc cảm tích cực về giáo dục giới tính cho học sinh THPT, nhưng mặt hành vi ứng xử của phụ huynh lại không thể hiện được tính nhận thức và mức độ xúc cảm của phụ huynh một cách tương ứng.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ

1.Kết luận

2.Khuyến nghị


TOÀN VĂN ĐỀ TÀI

Keyword(s):
MaiNgocToan.rar
:

Đề tài “thái độ của thanh niên quận Liên chiểu,TP Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS”

PHẦN 1. M ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.
Thanh niên được xem là “ rường cột của nước nhà”, là thế hệ hứa hẹn đem đến sự đổi thay to lớn cho đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay có một bộ phận thanh niên trước sự cám dỗ từ cuộc sống đã sa ngã vào các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy…mà dần quên đi trách nhiệm to lớn của họ với gia đình và tổ quốc. Sự sa ngã của họ vào các tệ nạn xã hội này làm nguy cơ mắc HIV/AIDS trở nên rất cao. HIV/AIDS đang biến những thanh niên khỏe mạnh, giàu lý tưởng, nhiệt huyết cống hiến cho xã hội và đất nước thành những con người gầy gồm, ốm yếu về thể chất và chết dần chết mòn về tinh thần. Họ sống thờ ơ với xã hội, quay lưng lại với xã hội đã nuôi dưỡng họ khôn lớn.
HIV/AIDS đang phát triển rất nhanh tại nước ta hiện nay cùng với các tệ nạn xã hội khác, nó như hồi chuông cảnh báo cho sự phát triển của đất nước, nó đang dần giết đi thế hệ tương lai của đất nước chỉ vì một phút nông nỗi, thiếu hiểu biết để rồi phải trả giá bằng cả cuộc đời. Vì vậy để ngăn chặn làm giảm sự phát triển của căn bệnh này thì công tác phòng chống HIV/AIDS là điều tất yếu. Thái độ của mọi người nhất là thanh niên là một trong những nhân tố chủ quan qui định hiệu quả của công tác phòng chống HIV/AIDS, nó vừa là mục đích vừa là điều kiện của công tác phòng chống HIV/AIDS, giúp cho thanh niên nhận thức đúng đắn về HIV/AIDS cũng như mức độ nguy hiểm của HIV/AIDS có thể mang lại cho chính bản thân thanh niên, gia đình và toàn xã hội.
Tuy nhiên hiện nay có một bộ phận thanh niên vẫn chưa có thái độ tích cực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS và cho rằng đây là vấn đề của các tổ chức xã hội, của các nhà chức năng, không phải là vấn đề của riêng họ và họ không cần phải quan tâm nhiều. Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ, nhưng có rất ít công trình nghiên cứu về thái độ của thanh niên đối với công tác phòng chống HIV/AIDS. Đây cũng chính lý do để tôi quyết định chọn đề tài “thái độ của thanh niên quận Liên chiểu,TP Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS”
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thái độ của thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao thái độ tích cực cho thanh niên quận Liên Chiểu, Tp Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ của thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS
3.2 Khách thể nghiên cứu
Thanh niên trên địa bàn quận Liên chiểu, TP Đà nẵng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên 200 thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng
4. Giả thuyết khoa học
Đa số thanh niên quận Liên Chiểu, TP Đà nẵng có thái độ tích cực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS. Tuy nhiên vẫn còn 1 số ít thanh niên chưa có thái độ tích cực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về vấn đề thái độ của thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng đối với công tác phòng chống HIV/AIDS. Xây dựng cơ sở lý luận cần thiết cho việc thực hiện đề tài
5.2 Tìm hiểu thực trạng thái độ đối với công tác phòng chống HIV/AIDS của thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng và phân tích các điều kiện nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng này
5.3 Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn đề xuất 1 số biện pháp hình thành và nâng cao thái độ tích cực đối với công tác phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên quận Liên chiểu, TP Đà nẵng
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
6.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Toàn văn khóa luận

Keyword(s):
NguyenLapTruong.rar
:

NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA THANH NIÊN QUẬN LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

RESEARCH ATTITUDE YOUTH LIEN CHIEU – TP. DA NANG TO PREVENTION AND ANTI – DRUG

 NGUYỄN THỊ KIM XUÂN

 Trường Đại học Sư phạm, Đại học Dà Nẵng

NGUYỄN LẬP TRƯỜNG

 Lớp 06 CTL – Khoa Tâm lý – Giáo dục

TÓM TẮT

Đề tài tập trung nghiên cứu thái độ của thanh niên quận Liên Chiểu – TP. Đà Nẵng trên ba mặt: nhận thức, tình cảm và hành vi. Từ đó đề xuất những kiến nghị phù hợp góp phần định hướng thái độ đúng đắn, tích cực cho thanh niên trong công tác phòng, chống ma túy.

ABSTRACT

Topic focus of yoth attitudes Lien Chieu – TP. Da Nang three aspects: cognitive, emotional and behavior. Since then propose recommendations consistent orientation contribute right attitude, positive youth in prevention and fight against drugs.

1. Đặt vấn đề

Ma túy là một tệ nạn xã hộ nguy hiểm, phương thức hoạt động tinh vi, nhiều thủ đoạn. Vì vậy việc phòng, chống hết sức khó khăn. Ma TN đang là nạn nhân chính của tệ nạn này (chiếm 80% người nghiện).TN là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Vị trí của TN là lực lượng xung kích cách mạng; công tác TN là vấn đề sông còn của dân tộc. Và trong công tác PCMT TN cũng là lực lượng xung kích. Tham gia tích cực vào công tác PCMT TN sẽ có những kiến thức, sự hiểu biết về tác hại của ma túy, giáo dục họ những kĩ năng sống để họ tự ra quyết định cho chính bản thân mình về việc phòng và chống ma túy có hữu hiệu. Đồng thời họ cũng góp phần đẩy lùi tệ nạn ma túy. Nhưng trong thực tế nhiều TN chưa tích cực tham gia công tác PCMT. Hơn nữa, vấn đề thái độ của TN đối với công tác PCMT chưa được nghiên cứu nhiều. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu thái độ của thanh niên quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đối với công tác phòng, chống ma túy” để nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần định hướng thái độ đúng đắn, tích cực cho TN quận Liên Chiểu trong công tác PCMT đạt hiệu quả.

2. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 165 TN quận Liên Chiểu – TP. Đà Nẵng từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2010 bằng cách sử dụng nhiều phối hợp hệ thống các phương pháp. Các kết quả nghiên cứu chính như sau:

2.1. TĐ của TN quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng đối với công tác PCMT

 3.1.1. TĐ chung của TN đối với công tác PCMT (Xem bảng 3.1)

Kết quả tại bảng 3.1 cho thấy: Đa số TN được chọn nghiên cứu có TĐ khá tích cực đối với công tác PCMT. Tỷ lệ TN đạt TĐ đối với công tác PCMT loại A (Rất tích cực) và loại B (Tích cực) chiếm tỷ lệ cao (Loại A: 41 TN, chiếm 24.8%; Loại B: 115 TN, chiếm 69.7%)

 Đi sâu nghiên cứu chúng tôi nhận thấy:

TĐ biểu hiện qua các mặt nhận thức, tình cảm, hành vi, trong đó mặt nhận thức của TN tốt hơn hai mặt kia, điểm trung bình là 3.47 đạt mức “Rất tốt”.

3.1.2. TĐ của TN đối với công tác PCMT (Kết quả xử lý theo giới tính)( Xem bảng 3.2)

Theo tự đánh giá của những TN được chọn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cả nam và nữ có thứ bậc 3 mặt của TĐ giống nhau. Cụ thể mặt nhận thức tốt nhất tiếp đến là mặt tình cảm, cuối cùng là mặt hành vi. Song nam TN có TĐ tích cực hơn nữ TN. Điểm trung bình TĐ đối với công tác PCMT của nam TN cao hơn nữ TN (ĐTB 3.25 so với ĐTB 3.14). Dùng công thức kiểm định sự khác biệt, tính t = 0.17, cho thấy sự khác biệt của hai giới.

3.2. TĐ của TN quận Liên Chiểu đối với công tác PCMT thể hiện qua các mặt

 3.2.1. TĐ của TN quận Liên Chiểu đối với công tác PCMT thể hiện qua mặt nhận thức

  3.2.1.1. TĐ của TN đối với công tác PCMT biểu hiện qua mặt nhận thức về khái niệm, tác hại, nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý, ý nghĩa của công tác PCMT (Xưm bảng 3.3)

Theo ý kiến đánh giá tổng hợp của TN: Đa số TN đạt mức độ nhận thức tốt ( Loại A) và nhận thức khá (Loại B). Có 43.7 % TN đạt mức loại A và 52.7% TN đạt mức loại B.

3.2.1.2. TĐ của TN đối với công tác PCMT biểu hiện qua mặt nhận thức về khái niệm, tác hại, nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý, ý nghĩa của công tác PCMT (Kết quả xử lý theo giới tính):

 Qua bảng 3.4 chúng tôi phân tích, thống kê về nhận thức của nam và nữ và thu được kết quả sau:

  Nhận thức khái niệm về ma túy và về tầm quan trọng của PCMT giữa nam và nữ ít có sự chênh lệch nên chúng tôi cho rằng ít có sự khác nhau. Nhận thức tác hại về ma túy có sự khác nhau giữa nam và nữ, thể hiện ở tỷ lệ nữ đạt mức độ loại A (Nhận thức tốt) và mức độ loại B (Nhận thức khá) chiếm tỷ lệ cao hơn nam (65.5% so với 28%).

3.2.1.3. TĐ của TN biểu hiện qua mặt nhận thức về tầm quan trọng của công tác PCMT (Xem bảng 3.5)

Kết quả thu được tại bảng 3.5 cho thấy các nội dung PCMT đều được TN giá rất cao mức “Rất quan trọng” (ĐTB >3.25). Sở dĩ TN đánh giá rất cao tầm quan trọng các nội dung PCMT này có thể vì những nội dung này dễ thực hiên đối với mọi TN, nhanh thấy và dễ đánh giá kết quả.

3.2.1.4. TĐ của TN biểu hiện qua nhận thức về tầm quan trọng của các hình thức PCMT

Qua bảng 3.5 cho thấy: TN tự đánh giá nhận thức của họ về tầm quan trọng của các hình thức PCMT với ĐTB trên 3.25 ở mức “Rất quan trọng”.

3.2.2. Thái độ biểu hiện qua mặt tình cảm của TN đối với công tác PCMT

3.2.2.1. Thái độ biểu hiện qua hứng thú của TN quận Liên Chiểu các nội dung, hình thức PCMT (Kết quả xử lý chung. (Xem bảng 3.7)

Qua kết quả bảng 3.7, chúng tôi thấy: Đa số TN đạt mức “Rất tích cực” (loại A) và mức “ Tích cực” (loại B). Điểm trung bình hứng thú của TN đối với các nội dung, hình thức PCMT là 3.18- Đạt mức “Thích”.

3.2.2.2. TĐ biểu hiện qua mức độ hứng thú của TN đối với nội dung và hình thức PCMT (Xét theo gới tính) (Xem bảng 3.8)

Qua bảng 3.8: Chúng tôi nhận thấy cả nam và nữ TN đều có tình cảm tích cực đối với nội dung và hình thức PCMT, thể hiện mức độ: ĐTB >3.25 đạt mức độ “Rất thích” các nội dung và hình thức PCMT, trong đó các hình thức PCMT được đánh giá cao hơn.

3.2.3.Thái độ biểu hiện qua hành vi của TN đối với công tác PCMT

 3.2.3.1.TĐ biểu hiện qua hành vi của TN đối với công tác PCMT (Kết quả xử lý chung)

Theo ý kiến đánh giá tổng hợp của TN quận Liên Chiểu: Đa số TN đạt mức “Rất tích cực” (loại A) chiếm tỷ lệ 24.4% và “Tích cực” (loại B) chiếm tỷ lệ 55.2%, có 20% chiếm tỷ lệ “Ít tích cực” (loại C).

 3.2.3.2. TĐ của TN biểu hiện qua mặt hành vi đối với các nội dung, hình thức PCMT (Xét theo giới tính)

- Về mức độ thường xuyên: Mức độ tham gia vào các nội dung PCMT ở nam thường xuyên hơn, thể hiện tỷ lệ đạt loại A và B chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, nam chiếm tỷ lệ 88% còn nữ chiếm tỷ lệ 74.7%. Còn về mặt hình thức không có sự khác biệt nhiều.

- Về mức độ tích cực: Mức độ tham gia vào nội dung và hình thức PCMT của hai giới trái ngược nhau. Nam tham gia tích cực vào các nội dung

3. Kết luận

- Đa số TN quận Liên Chiểu –TP Đà Nẵng có TĐ tích cực đối với công tác PCMT. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số TN vẫn còn có TĐ chưa tích cực đối với công tác PCMT. Trong 3 mặt của TĐ mặt nhận thức có biểu hiện tốt nhất, tiếp đến là mặt tình cảm, biểu hiện kém nhất là mặt hành vi. Điều này cho thấy TN đã có nhận thức và tình cảm tốt nhưng chưa chuyển hóa thành hành vi tích cực trong công tác PCMT. TN đánh giá cao và có TĐ đối với các nội dung, hình thức phù hợp với họ, đó là những nội dung, hình thức được tổ chức thường xuyên, hấp dẫn, dễ tham gia và ít tốn kém.

- TĐ của nam TN tích cực hơn nữ TN đối với công tác PCMT. Có sự khác biệt này là do đặc điểm tâm sinh lý của hai giới, cũng như sự quan tâm, cách nhìn nhận và sự tham gia của hai giới là khác nhau.

4. Kiến nghị

 - Đối với bản thân: Ma túy là một tệ nạn xã hội rất nguy hiểm mà đối tượng bọn tội phạm hướng đến chủ yếu là TN vì vậy bản thân mỗi TN phải có ý thức, trách nhiệm cùng với cộng đồng tham gia vào công tác này nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ tệ nạn này.

 - Đối với các cơ quan, tổ chức nơi có TN học tập, lao động: Cần thường xuyên tổ chức các hoạt động PCMT tập trung, liên tục với các nội dung, hình thức phù hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ph. Lomov (2000), Những vấn đề lý luận và Phương pháp Tâm lý học, NXB ĐHQGHN, HN (Bản dịch từ tiếng Nga – Nguyễn Đức Hưởng, Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa).

[2] Hipho và Phovec. M (1984), Nhập môn Tâm lý học xã hội, NXB KHXH (Đức Huy dịch).

[3] Lê Thị Duyên (2009), Thái độ của người dân phường Hoà Khánh Nam, quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng về vấn đề bạo lực gia đình đối với người phụ nữ, Khoá luận tốt nghiệp.

[4] Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Chính tri quốc gia, HN

[5] Hồ Thị Thuý Hằng (2009), Nhu cầu và động cơ thành đạt của thanh niên quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng, Khoá luận tốt nghiệp.

[6] Lê Văn Hồng (2007), Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội

[7] Nguyễn Thị Thuý Hường (2007), Thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng sư phạm, Luận văn tiến sĩ Tâm lý học, Bộ GD &ĐT, Viện chiến lược và Chương trình giáo dục.

[8] Trần Hiệp (1996), Tâm lý học xã hội- Những vấn đề lý luận, NXB KHXH, HN

[9] Trần Hiệp, Đổ Long (1991), Sổ tay Tâm lý học, NXB KHXH, HN

[10] Bùi Văn Huê (2003), Tâm lý học Xã hội, NXB ĐHQGHN, HN

[11] Phạm Minh Hạc (2001), Tuyển tập Tâm lý học, NXB Giáo dục, HN

[12] Triệu Thị Hải (2009), Thái độ của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng đối với hoạt động phòng chống ma tuý, Khoá luận tốt nghiệp

[13] Phan Thị Mai Hương, Thanh niên nghiện ma tuý: Nhân cách và hoàn cảnh xã hội, NXB Khoa học Xã hội.

[14] Nguyễn Đức Hưởng (1998), Nghiên cứu thái độ học tập của SV Đại học An ninh nhân dân, Luận văn thạc sĩ TLH, Viện Khoa học GD, Hà Nội.

[15] Vũ Thị Nho (2005), Tâm lý học phát triển, NXB ĐHQG HN, HN

[16] Trần Trọng Thủy (2006), Khoa học chẩn đoán tâm lý, NXBGD, HN

[17] Dương Thiệu Tống (2005), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB KHXH, HN

TOÀN VĂN KHÓA LUẬN

Keyword(s):
:

NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA THÁM – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

NEEDS CONSULTANT PSYCHOLOGY OF THE PUPIL IN HIGH SCHOOL HOANG HOA THAM – DA NANG CITY

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Kim Xuân

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

SVTH: Nguyễn Phương Thảo

Lớp 06 CTL - Khoa Tâm lý – Giáo dục

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành: Cử nhân Tâm lý học

TÓM TẮT

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh (HS) trường THPT Hoàng Hoa Thám – Thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị trong việc tổ chức tham vấn tâm lý (TVTL) cho học sinh THPT.

SUMMARY

Research topics focus situation needs counseling psychology of the pupil in High School Hoang Hoa Tham – Da Nang city. On that basis, make some recommendations in the organization of psychological counseling for high school pupils.

1. PHẦN MỞ ĐẦU

Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội, các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ, thầy cô đang tạo ra những áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho HS trong cuộc sống, trong học tập và trong quá trình phát triển. Mặt khác, sự hiểu biết của HS về bản thân mình cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn hạn chế trước những sức ép nói trên. Hậu quả là ngày càng có nhiều HS gặp không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối quan hệ xung quanh. Vì vậy, những HS này rất cần được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, của thầy cô giáo và cha mẹ. Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những mô hình TVTL cho HS. Ở thành phố Đà Nẵng (Tp. ĐN) hiện nay chưa có trường phổ thông nào trên địa bàn thành phố thành lập phòng tham vấn cho HS; tổ chức hoạt động TVTL cho HS tại các trường phổ thông còn rất ít. Các em chưa được biết, chưa được tiếp cận nhiều với các hình thức TVTL. Vì vậy việc tìm hiểu nhu cầu TVTL của HS là rất cần thiết, trên cơ sở đó đánh giá nhu cầu tham vấn của HS theo các mức độ khác nhau để từ đó xác định phương hướng tổ chức các hoạt động tham vấn nhằm đáp ứng nhu cầu của các em.

Từ lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài: “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trường Trung học phổ thông Hoàng Hoa Thám – Thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.

2. PHẦN NỘI DUNG

2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

2.2. Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

2.3. Kết quả nghiên cứu

2.3.1. Thực trạng khó khăn tâm lý của HS trường THPT Hoàng Hoa Thám - Tp. ĐN

2.3.1.1. Mức độ hài lòng của HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN về cuộc sống hiện tại

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có 25.3 % HS của trường THPT Hoàng Hoa Thám cảm thấy “Rất hài lòng” về cuộc sống hiện tại của bản thân. Số HS cảm thấy “Tương đối hài lòng” chiếm tỷ lệ lớn nhất với 63.8 %. Và có 10.9 % HS cảm thấy “Không hài lòng” với cuộc sống hiện tại, điều này một mặt đã phản ánh sự căng thẳng quá mức của một số học sinh hiện nay, mặt khác cho thấy áp lực từ phía gia đình, nhà trường và xã hội đến đời sống của các em; Không có sự khác biệt giữa nam và nữ (p > 0.05). Như vậy có thể nói cả HS nam và HS nữ đều có những khó khăn nhất định. Và chỉ có sự khác biệt giữa từng nhóm khối học với nhau ở cả ba mức độ “Rất hài lòng” (khối 10 – khối 11; khối 10 – khối 12), “Tương đối hài lòng” (khối 10 – khối 11; khối 10 – khối 12), “Không hài lòng” (khối 10 – khối 12; khối 11 - khối 12).

2.3.1.2. Mức độ gặp khó khăn của HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN

Qua phân tích số liệu chúng tôi nhận thấy có 34.8 % HS “Thường xuyên” gặp khó khăn trong cuộc sống; 63.5 % học sinh “Đôi khi” gặp khó khăn trong cuộc sống và chỉ có 1.7 % học sinh “Không bao giờ” gặp khó khăn trong cuộc sống.

Không có sự khác biệt giữa nam và nữ ở mức độ “Thường xuyên” ” (nam: 33.6 % - nữ: 35.9 %) và “ Đôi khi” (nam 62.9 % - nữ 64.1 %). Điều này cho thấy cả nam và nữ cùng có chung những áp lực, khó khăn; và cả nam và nữ đều không biết cách ứng phó, tháo gỡ những khó khăn của mình. Ở mức độ “Không bao giờ”gặp khó khăn trong cuộc sống có sự khác biệt giữ HS nam và HS nữ (nam 3.5 % - nữ 0 %, p = 0.000). Ở các khối học nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể về mức độ gặp khó khăn trong cuộc sống.

2.3.1.3. Những khó khăn tâm lý chủ yếu của HS cần sự trợ giúp của người khác

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN thường gặp khó khăn chủ yếu ở các vấn đề: Học tập, rèn luyện (74.7 %); Lý tưởng, nghề nghiệp trong tương lai (73.4 %); Sự phát triển của bản thân (42.3 %); Tình yêu tuổi học trò (39.6 %); Quan hệ với bạn bè, với tập thể lớp (37.5 %) và vấn đề tài chính (36.2 %). Những vấn đề HS ít gặp khó khăn là: Quan hệ với cha mẹ, anh chị em (25.6 %); Những thắc mắc về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên (21.8 %); Tình bạn khác giới (20.8 %) và quan hệ với thầy cô giáo (8.5 %).

Một số vấn đề có sự khác nhau giữa nam và nữ. Và không vấn đề nào có sự khác biệt chung giữa cả ba khối học, mà chỉ có sự khác biệt giữa từng nhóm khối học với nhau.

Kết hợp với những kết quả phân tích về mức độ hài lòng với cuộc sống hiện tại và những khó khăn tâm lý chủ yếu của HS ở trên, chúng tôi còn tiến hành điều tra về biểu hiện những khó khăn tâm lý của HS thông qua hai trắc nghiệm đánh giá mức độ trầm cảm và lo âu của Beck nhằm mục đích đánh giá được trạng thái tâm lý tiêu cực của HS. Qua đó cho thấy số HS có biểu hiện trầm cảm và lo âu đều chiếm tỷ lệ khá cao ở ba mức độ: nhẹ, trung bình và nặng. Như vậy có thể nhận thấy thực sự có nhiều HS gặp khó khăn tâm lý, song các em không cảm nhận và đánh giá được hết những khó khăn tâm lý của mình. Nếu những khó khăn này không được giải quyết thì các HS này sẽ có nguy cơ cao dẫn đến sự lo âu, trầm cảm và rối nhiễu tâm lý.

2.3.1.4. Ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý đến đời sống của học sinh

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy những khó khăn tâm lý đã có ảnh hưởng nhất định đến đời sống của HS. Cụ thể: Có 30.4 % HS cho rằng những khó khăn tâm lý “Ảnh hưởng rất nhiều” đến đời sống của HS. Mức độ “Ít ảnh hưởng” chiếm tỷ lệ cao nhất với 59 %, trong khi đó mức độ “Không ảnh hưởng” chiếm tỷ lệ thấp nhất với 1.7 %. Và có 8.9 % “ý kiến khác” của HS về mức độ ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý đến đời sống của HS. Như vậy có thể nói rằng ảnh hưởng của những khó khăn tâm lý đến đời sống của các em là tương đối nhiều. Vì vậy vấn đề trợ giúp các em học sinh cách giải quyết những khó khăn của mình có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của các em.

2.3.2. Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh trường THPT Hoàng Hoa Thám - Thành phố Đà Nẵng

Qua phân tích số liệu chúng tôi nhận thấy đại đa số HS cho rằng TVTL “có cần thiết” đối với HS, chiếm 95.6 %. Chỉ có 4.4 % HS cho rằng TVTL là “không cần thiết”. Như vậy có thể thấy đa số HS đều ý thức được tầm quan trọng của TVTL đối với bản thân họ. Về mức độ tiếp cận dịch vụ TVTL thì có 10.6 % HS đã sử dụng dịch vụ TVTL “một vài lần”. Có tới 89.4 % HS “chưa bao giờ” sử dụng dịch vụ TVTL, và không có HS nào “thường xuyên sử dụng” dịch vụ TVTL.

Các vấn đề HS lựa chọn để tham vấn thứ nhất là học tập, rèn luyện; Thứ hai là lý tưởng, nghề nghiệp trong tương lai. Lĩnh vực thứ ba là quan hệ với cha mẹ, anh chị em và lĩnh vực thứ tư là sự phát triển của bản thân. Lĩnh vực học sinh ít lựa chọn để tham vấn nhất là quan hệ với thầy cô giáo, tình bạn khác giới. Có sự khác biệt giữa nam và nữ ở các vấn đề sau: Quan hệ với bạn bè, với tập thể lớp; Quan hệ với thầy cô giáo; Lý tưởng, nghề nghiệp trong tương lai (việc chọn nghề). Ở các lĩnh vực còn lại không có sự khác biệt giữa nam và nữ (p > 0.05). Và không có sự khác biệt giữa cả ba khối học về nhu cầu tham vấn ở tất cả các lĩnh vực trên.

HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN đều có nhu cầu tham vấn theo hình thức nhất định. Trong đó hình thức tham vấn được các em lựa chọn nhiều nhất là tham vấn trực tuyến qua Internet (36.9 %); tham vấn qua tổng đài điện thoại (34.5 %); tiếp đến là gặp gỡ trực tiếp các chuyên gia tại các trung tâm TVTL (32.1 %). Các hình thức còn lại như: Tham vấn qua thư từ, sách báo (20.8 %), tham vấn trực tiếp tại nhà (11.6 %), và tham vấn trực tiếp tại trường (9.9 %) ít được HS lựa chọn hơn.

Đa số HS cho rằng “Nên mở” phòng tham vấn trong trường học chiếm 62.8 % và 33.1% học sinh cho rằng “Mở cũng được, không mở cũng được”, chỉ có 4.1 % học sinh cho rằng “Chưa nên mở” phòng tham vấn. Như vậy, phần lớn các em HS đều nhận thức được rằng hoạt động tham vấn đối với các em là “có cần thiết” và “nên mở” phòng tham vấn trong trường học.

Về nhà TVTL mà HS mong muốn thì có 68.6 % mong muốn nhà TVTL cho mình là “Nhân viên tham vấn tâm lý”; 19.1 % HS mong muốn nhà TVTL cho mình là “Các bạn học trong trường (những người được trang bị kiến thức cần thiết)”; Và chỉ có 12.3 % HS mong muốn nhà TVTL cho mình là “Thầy cô giáo trong trường”.

3. PHẦN KẾT LUẬN

3.1. Kết luận

- Từ việc nghiên cứu lý thuyết về nhu cầu, tham vấn tâm lý và những khó khăn tâm lý chủ yếu của HS THPT, đã giúp chúng tôi tích lũy thêm được nhiều kiến thức quý báu cho bản thân.

- Hầu hết HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN được khảo sát đều có những KKTL với các mức độ khác nhau ở các lĩnh vực nhất định. Trong đó có tới gần 1/3 (34.8 %) HS ở mức độ thường xuyên gặp những vấn đề khiến các em phải lo lắng, suy nghĩ và 30.4 % HS cho rằng những KKTL này “ảnh hưởng rất nhiều” đến đời sống của các em. Mặt khác, kết hợp với hai trắc nghiệm đánh giá mức độ lo âu và trầm cảm của HS, chúng ta có thể nhận thấy thực sự có nhiều em gặp KKTL. Và nếu những khó khăn này không được giải quyết thì những HS này có nguy cơ cao dẫn đến sự lo âu, trầm cảm. Thực trạng này rất đáng lo ngại đối với sức khỏe tâm lý của HS.

- HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN có nhu cầu TVTL phong phú, đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Một số lĩnh vực cũng có sự khác nhau giữa nam – nữ và giữa từng nhóm khối học với nhau. Các em đều có nhu cầu tham vấn theo hình thức nhất định. Mặt khác các em có nhu cầu rất cao về việc mở phòng TVTL tại trường học (62.8 %) và nhân viên TVTL chính là nhà tham vấn mà HS mong muốn nhiều nhất (68.6 %).

- Qua thực tế điều tra cho thấy đa số HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN chưa được tiếp cận với dịch vụ TVTL (89.4 %) với nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do chủ yếu nhất là “Không có thông tin về các dịch vụ TVTL”. Như vậy có sự mâu thuẫn giữa nhận thức về sự cần thiết và nhu cầu tham vấn cao, phong phú, đa dạng của HS trường THPT Hoàng Hoa Thám – Tp. ĐN với thực tế các em tiếp cận dịch vụ này còn ít.

2. Khuyến nghị

- Ban giám hiệu nhà trường kết hợp với văn phòng Đoàn trường tổ chức các buổi nói chuyện, tiếp xúc và trao đổi với HS về TVTL để các em được tiếp cận và hiểu rõ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng thiết thực của TVTL đối với bản thân các em.

- Nhà trường nên tổ chức phòng tham vấn để trợ giúp HS, nhằm thỏa mãn nhu cầu tham vấn của các em. Nội dung tham vấn nên tập trung vào các vấn đề được nhiều HS lựa chọn. Hoạt động của phòng tham vấn trong trường học có thể được thực hiện theo nhiều hình thức sinh động. Cán bộ tham vấn chủ yếu phải là các nhà tham vấn chuyên nghiệp, bên cạnh đó cũng cần kết hợp với vai trò của đội ngũ giáo viên cũng như các cán bộ phụ trách Đoàn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đàm Thị Quế Anh, Khóa luận tốt nghiệp “Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng”, 2009.

[2] Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lí học nhân cách - một số vấn đề lí luận, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2000.

[3] Đặng Bá Lãm – Weiss Bahr (Chủ biên), Giáo dục, tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007.

[4] Võ Thị Ngọc Châu, “Nghiên cứu nhu cầu thành đạt và quan hệ của nó với tính tích cực nhận thức của sinh viên”, Luận văn thạc sĩ Tâm lý học, 1999.

[5] PGS. TS. Võ Thị Minh Chí, Lịch sử tâm lý học, Nxb Giáo dục, 2004.

[6] Nguyễn Thị Dật, Khóa luận tốt nghiệp “Nhu cầu được tư vấn về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng”, 2009.

[7] Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và kĩ thuật Hà Nội, 2006.

[8] PGS. TS. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009.

[9] Trần Thị Minh Đức – Đỗ Hoàng, “Tham vấn học đường – nhìn từ góc độ giới”, Tạp chí Tâm lý học, số 11 (92), 11/ 2006.

[10] Trần Thị Minh Đức, “Thực trạng tham vấn ở Việt Nam: từ lý thuyết đến thực tế”, Tạp chí Tâm lý học, số 2, 2/ 2003.

[11] Lê Văn Hồng (chủ biên), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2001.

[12] Kiến Văn – Lý Chủ Hưng, Tư vấn tâm lý học đường, Nxb Phụ nữ, 2007.

[13] Phan Thị Mai Hương (Chủ biên), Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn, Nxb Khoa học xã hội, 2007.

[14] Dương Thị Diệu Hoa – Vũ Khánh Linh – Trần Văn Thức, “Khó khăn tâm lý và nhu cầu tham vấn của học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí Tâm lý học, số 2 (95), 2/ 2007.

[15] Đỗ Ngọc Khanh, “Nhu cầu hoạt động tham vấn ở các trường giáo dưỡng”, Tạp chí Tâm lý học, số 10 (115), 10/ 2008.

[16] Đặng Phương Kiệt, Cơ sở tâm lí học ứng dụng, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2001, tập 1.

[17] PGS. TS. Trần Ngọc Khuê (Chủ biên), Giáo trình tâm lý học lãnh đạo quản lý, Khoa Tâm lý xã hội - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001.

[18] B. Ph. Lomov, Những vấn đề lí luận và phương pháp luận tâm lí học, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2000.

[19] Bùi Thị Xuân Mai, “Tham vấn – một dịch vụ xã hội cần được phát triển ở Việt Nam”, Tạp chí Tâm lý học, số 2, 2/ 2005.

[20] Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Các lý thuyết phát triển tâm lí người, Nxb Đại học Sư phạm, 2003.

[21] Vũ Thị Nho, Tâm lí học phát triển, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2007.

[22] Đào Thị Oanh (chủ biên), Vấn đề nhân cách trong tâm lí học ngày nay, Nxb Giáo dục, 2007.

[23] Đoàn Huy Oánh, Tâm lý sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia TPHCM, 2005.

[24] Th.S Nguyễn Thơ Sinh, Các học thuyết tâm lý học nhân cách, Nxb Lao Động, 2006.

[25] Th.S Nguyễn Thơ Sinh, Tư vấn tâm lý căn bản, Nxb Lao Động, 2006.

[26] Vũ Kim Thanh, “Tư vấn tâm lý – một nhu cầu xã hội cần được đáp ứng”, Tạp chí Tâm lý học, số 2, 4/ 2001.

[27] Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Từ điển tâm lí học, Nxb Thế Giới, 2007.

[28] Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình tâm lí học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm, 2006.

[29] Các trang web:

- www.tamlyhoc.net

- www.tamlytrilieu.com

- www.sharevn.org

- www.tuvantamly.com.vn

Toàn văn khóa luận

Keyword(s):
NguyenThiBaoTram.rar
:

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

THE SOME COMMUNICATION’S CHARACTERISTICS OF DEPARTMENT PEDALOGY’S STUDENTS – TAY NGUYEN UNIVERSITY

PHẠM THỊ MƠ

Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

NGUYỄN THỊ BẢO TRÂM

Lớp 06 CTL – Khoa Tâm lý – Giáo dục

TÓM TẮT

Bài viết tập trung nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản trong giao tiếp của sinh viên khoa sư phạm, trường Đại học Tây Nguyên ở các mặt: nhu cầu, nội dung, kỹ năng giao tiếp,và trên cơ sở kiến nghị các biện pháp giúp nhà trường sư phạm tổ chức các hoạt động nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên

ABSTRACT

The article is concentrated on the some characteristics of department pedalogy students – Tay Nguyen university’s communication in the fields of communication’s need, content, skills, and based on petition the ways help teacher’s university to organize the activites enhance communication skill for students.

1. Đặt vấn đề

Giao tiếp là mặt đặc trưng nhất trong hành vi của con người, nó không những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách mà còn đảm bảo cho con người đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động.

Đối với nghề dạy học, giao tiếp không những có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên mà còn là một bộ phận cấu thành hoạt động sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên. Do đó, vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủ động tự chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp sư phạm, để khi bước vào nghề họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết ngay được những tình huống trong giao tiếp sư phạm. Nhà trường sư phạm là nơi thực hiện nhiệm vụ này.

Đại học Tây Nguyên là một trường đào tạo đa ngành nghề, trong đó có nghề sư phạm. Số lượng sinh viên của trường đông, trong đó có những sinh viên thuộc các dân tộc ít người, với đặc điểm văn hóa khác nhau, phong cách sinh hoạt, giao tiếp khác nhau.

Qua kết quả tiếp xúc sơ bộ cho thấy, nhiều sinh viên của trường còn e dè, thiếu chủ động, thiếu mạnh dạn trong học tập và các hoạt động khác. Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều và một trong các nguyên nhân. phải kể tới đó là năng lực giao tiếp còn hạn chế của sinh viên. Muốn nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên sư phạm thì phải nắm được đặc điểm giao tiếp của họ. Đó là lý do, khiến tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên khoa sư phạm- Trường Đại học Tây Nguyên” nhằm góp phần đưa ra cơ sở khoa học để có giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường đối với ngành sư phạm.

2. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 300 sinh viên khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên trong học kì II – 2010 bằng cách sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu tâm lý như: các phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp trắc nghiệm tâm lý, điều tra viết, quan sát, phỏng vấn và các phương pháp thống kê toán học. Các kết quả nghiên cứu chính như sau:

2.1. Về nhu cầu giao tiếp của sinh viên khoa SP, Trường ĐHTN

Để đo nhu cầu giao tiếp của sinh viên, chúng tôi sử dụng trắc nghiệm P.O do trường Đại học Sư phạm Leenin (Liên Xô cũ) soạn thảo và thu được kết quả như sau:

Kết quả như sau: SV có nhu cầu giao tiếp ở mức độ dưới trung bình chiếm 75.33%. Cho thấy số lượng SV khoa SP có mức độ nhu cầu giao tiếp không cao.

- Xét theo giới tính cả nam và nữ có nhu cầu giao tiếp ở mức độ trung bình thấp chiếm (40.41%; 37.66%). Mức độ nhu cầu giao tiếp giữa nam và nữ SV khoa sư phạm có sự chênh lệch nhau ở các mức độ (P<0.05).

- Khi so sánh các năm học thì ở mức độ trung bình thấp, thấp có chênh lệch nhau ở năm I và năm IV, trong đó năm IV cao hơn năm I. Ở mức độ cao, TB cao không có sự tăng lên. Điều này cho thấy: nhu cầu giao tiếp của sinh viên không hề được thay đổi theo hướng phát triển qua quá trình học tập rèn luyện ở nhà trường. Chứng tỏ việc tổ chức các hoạt động rèn luyện của nhà trường không hề phát triển được nhu cầu giao tiếp cho sinh viên.

- Khi xét theo ngành học thì nhận thấy các ngành SV đều có nhu cầu giao tiếp ở mức độ trung bình thấp

2.2. Nội dung giao tiếp

+ Trong đó về nội dung, phương pháp học tập được SV xếp thứ bậc I, =1.7, thuộc mức độ thường xuyên, chiếm tỷ lệ cao nhất . Có thể thấy đây là nội dung giao tiếp rất được quan tâm, vì hoạt động chủ đạo của SV là học tập và rèn luyện để phục vụ cho nghề nghiệp của bản thân. Nội dung rèn luyện tay nghề sư phạm của SV xếp vị trí thứ ba ĐTB =1.47, ở mức độ thường xuyên. Chỉ có 149 SV chiếm 49,67% thường xuyên rèn luyện. Trong đó chủ yếu thuộc sinh viên năm thứ ba và thứ tư. Nội dung tình bạn, tình yêu mức độ trung bình là 1.29, ở mức độ đôi khi.

2.3. Kỹ năng giao tiếp của SV khoa SP, Trường ĐHTN

2.3.1. Mức độ kỹ năng giao tiếp

Trong tổng số 300 SV được khảo sát, xếp theo mức độ thì không có SV nào xếp loại giỏi, SV xếp loại trung bình chiếm phần lớn: 81%, loại khá 7% và yếu là 12%. Điều này cho thấy kỹ năng giao tiếp của SV chưa cao, tương đồng với mức độ nhu cầu giao tiếp. SV loại yếu còn chiếm tỷ lệ nhiều sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc rèn luyện kỹ năng cho bản thân, nhất là SV SP.

* Xét theo giới tính thì cho thấy: ở nam và nữ đều có khả năng giao tiếp ở mức trung bình (nam 80.14% ;nữ 81.82%), ở các mức độ KNGT có sự chênh lêch ở nam và nữ, tuy nhiên sự chênh lêch này không quá lớn. (P>0.05).

* Xét theo ngành học, ở các ngành học khác nhau, SV có sự khác nhau trong mức độ kỹ năng giao tiếp.

* Xét theo khoá học, giữa các năm học ít có sự khác nhau, mức độ kỹ năng giao tiếp của SV cũng có sự chênh lệch, cụ thể:

- Ở mức độ khá: SV năm IV có sự khác nhau với SV năm I: SV năm IV mức độ cao hơn năm I 6.96% (P=0.01), Trải qua bốn năm học, thông qua việc học tập và rèn luyện tại trường, đã có nhiều bạn SV hình thành cho mình KNGT tốt hơn SV năm I, đây cũng là điều hiển nhiên

2.3.2. Mức độ từng kỹ năng giao tiếp

Từng KNGT chung của SV đạt mức trung bình, không có KNGT nào đạt loại giỏi, không có ai đạt điểm “lý tưởng” (16điểm). Chúng tôi tính mức độ của từng cá nhân, sau đó xếp theo mức độ của mỗi kỹ năng.

- Nhóm kỹ năng có điểm trung bình cao nhất trong 10 nhóm KNGT của SV là sự nhảy cảm trong giao tiếp với, điểm trung bình 1.65, đạt mức khá. Chỉ số này chứng tỏ khả năng nắm bắt trạng thái tâm lý người khác ở SV cao, SV có khả năng “đọc” trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói để phát hiện chính xác đầy đủ thái độ, cảm xúc của đối tượng giao tiếp, từ đó đoán đúng nội tâm của đối tượng.

- Xếp thứ bậc thấp nhất là nhóm biết cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tượng trong khi tiếp xúc với điểm trung bình là 0.69, đạt mức trung bình. SV chưa biết cần bằng giữa nhu cầu của mình và nhu cầu của đối tượng giao tiếp. Trong quá trình nói chuyện với bạn bè chưa chú ý đến nhu cầu, sở thích của họ, không quan tâm đến ý đồ của người tiếp xúc mình.

Từ kết quả phân tích ở trên, chúng ta có thể nêu lên nhận định: KNGT của SV khoa SP –Trường ĐHTN chưa cao, chỉ đạt mức trung bình. Trong đó cao nhất là sự nhạy cảm trong giao tiếp và thấp nhất là sự cân bằng nhu cầu cá nhân và đối tượng trong khi tiếp xúc. Mức độ chênh lệch về điểm số giữa các kỹ năng là không có ý nghĩa (P>0.05).

Những KNGT rất cần cho hoạt động sư phạm như: khả năng cần bằng giữa nhu cầu cá nhân và nhu cầu người khác hay khả năng nghe đối tượng giao tiếp, xây dựng thiết lập mối quan hệ, khả năng làm chủ cảm xúc, hành vi đạt ở mức độ chưa cao, điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình dạy học sau này.

2.4. Nguyên nhân ảnh hưởng đến đặc điểm giao tiếp của SV

Trong đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra viết và đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến đặc điểm giao tiếp của SV như sau:

- Bản thân sinh viên chưa tích cực hoạt động rèn luyện mặc dù họ nhận thức được sự cần thiết phải rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.

Nhận thức của SV về yêu cầu nghề nghiệp, chúng tôi thu được kết quả từ câu hỏi 1 như sau: SV có nhận thức đúng yêu cầu nghề nghiệp cần có đó là: vừa học tập tốt chuyên môn, vừa tích cực rèn luyên nâng cao nghiệp vụ sư phạm, với 247 SV lựa chọn chiếm 82.33%

Đánh giá tích cực hoạt động của SV:

+ SV ít chú tâm đến các hoạt động diễn ra, với 237 SV chiếm 79% cho rằng “ít quan tâm” đến các hoạt động. Điều này đáng lo ngại, trong khi số lựa chọn “rất quan tâm” chiếm vị trí ít 5%.

+Khi tiến hành điều tra sự tích cực tham gia các hoạt động thì có đến 139 SV chiếm 46.33% tham gia cho có lệ. Bắt buộc và không tham gia chiếm đến 29.67%, trong khi đó số lượng SV chủ động tham gia là ít 24%.

- Hoạt động rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên của nhà trường và khoa chưa được quan tâm đúng mức nội dung hoạt động chưa phong phú.

Sự đánh giá khác nhau của sinh viên về việc tổ chức các hoạt động của nhà trường cho thấy nhà trường đã có tổ chức hoạt động nhằm nâng cao KNGT cho SV. Tuy nhiên việc tổ chức các hoạt động chắc chắn chưa nhiều, chưa thực sự hấp dẫn lôi cuốn sinh viên tham gia nên các em không biết đến hoạt động do nhà trường hoặc khoa tổ chức, không tham gia nên chủ yếu lựa chọn đáp án thỉnh thoảng (43.67%) và rất ít (19.33%).

- Đặc điểm khí chất của sinh viên cũng là nguyên nhân dẫn đến mức độ nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của sinh viên chưa cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm khí chất cũng ảnh hưởng đến nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của SV. Đây là nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu giao tiếp khiến nhiều bạn có nhu cầu giao tiếp thấp, từ đó có tác động tới việc nâng cao kỹ năng giao tiếp của SV, số đông lựa chọn nằm ở SV năm I.

Trên cơ sở thực trạng đã trình bày, chúng tôi đưa ra các biện pháp, để các biện pháp phát huy hiệu quả, chúng tôi đưa ra các kiến nghị sau:

* Đối với sinh viên

- Khi đã nhận thức đầy đủ những yêu cầu của nghề nghiệp thì SV cần thực hành nó thông qua các hoạt động.

- Nhiều bạn SV, nhất là SV năm thứ nhất còn ngượng ngùng, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động SV cần tìm hiểu các hoạt động đang diễn ra nào phù hợp với mình, nắm bắt cơ hội để thể hiện tài năng, ban đầu sẽ rất khó khăn những qua nhiều lần tập luyện sẽ hình thành thói quen và nâng cao được nhu cầu, kỹ năng giao tiếp.

- Hơn ai hết chính SV phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân không chỉ chuyên môn mà nghiệp vụ nhằm hình thành cho mình những năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng với nghề nghiệp trong tương lai.

* Đối với nhà trường sư phạm

Nhà trường sư phạm cần nhận thấy được vị trí quan trọng của mình trong quá trình hình thành và phát triển giao tiếp của SV.

- Ngay từ thời kì đầu SV mới bước vào trường cần phải xác định được nhu cầu giao tiếp và khả năng giao tiếp của SV, trên cơ sở đó có những biện pháp tác động, điều chỉnh kịp thời, có những cách thức rèn luỵên phù hợp.

- Cần thường xuyên tổ chức các hình thức rèn luyện sao cho tạo sự hứng thú, thu hút đông đảo SV tham gia. Các hoạt động được diễn ra mang đậm dấu ấn đặc thù riêng của nghề thầy giáo.

- Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cần phải hợp tác phối hợp tổ chức các hoạt động giao tiếp, tạo điều kiện mở rộng phạm vi giao tiếp của SV. Khi tổ chức các hoạt động giao tiếp cho SV phải chú ý đến những sắc thái riêng về đặc điểm giới tính, khoá học và chuyên ngành đào tạo.

3. Kết luận

Những kết quả của nghiên cứu cho phép đi đến kết luận rằng giao tiếp là một mặt không thể thiếu được trong quá trình học tập và rèn luyện trong nhà trường sư phạm. Nhà trường sư phạm cần nhận thức rõ vai trò của mình để có kế hoạch phù hợp trong đào tạo cũng như các hoạt động nhằm nâng cao nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của sinh viên

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hoàng Anh (chủ biên) (2004), Giáo trình tâm lý học giao tiếp, NXB ĐHSP.

[2] Đào Thị Oanh (2002), Nhu cầu giao tiếp cuối bậc tiểu học, Tạp chí tâm lý học, Số10

[3] Lê Thị Bừng (chủ biên) (2003), Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, NXB ĐHSP.

[4] Nguyễn Thị Diễm (2008), Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Quảng Trị, Tạp chí khoa học và công nghệ, ĐHĐà Nẵng. Số 2

[5] Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh (1998), Giao tiếp sư phạm, NXB Giáo dục.

[6] Ngô Công Hoàn (1997), Giao tiếp và ứng xử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[7] Ngô Công Hoàn (chủ biên) (1997), Những trắc nghiệm tâm lý, Tập II, Trắc nghiệm về nhân cách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[8] Lê Văn Hồng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội.

[9] Nguyễn Xuân Thức - Phạm Thành Nghị (1993), Một số vấn đề giao tiếp sư phạm, Tạp chí tâm lý học, Số 10

[10] Giáo trình giao tiếp sư phạm (2006), Trường Đại học SP TDTT TP HCM. NXB TDTT Hà Nội.

[11] Nguyễn Quang Uẩn (2004), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục

[12] B.Ph.LoMov (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học, Nhà xuất bản Hà Nội.

TOÀN VĂN KHÓA LUẬN

Keyword(s):
NguyenThiNgocAnh.rar
:

THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGHI KIM (TP. VINH – TỈNH NGHỆ AN) VỀ VẤN ĐỀ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG.

ATTITUDES OF STUDENTS IN NGHI KIM JUNIOR SCHOOL (VINH CITY – NGHE AN PROVINCE) ABOUT SCHOOL VIOLENCE.

GVHD: THS. PHẠM THỊ MƠ

Khoa Tâm lí- Giáo dục, trường ĐHSP

SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

Lớp: 06CTL, TrườngĐại học Sư phạm

TÓM TẮT

Thái độ là một hiện tượng tâm lý được nghiên cứu nhiều trong Tâm lý học xã hội. Thái độ đối với vấn đề bạo lực học đường có ý nghĩa rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Việc hình thành thái độ tích cực đối với bạo lực học đường sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Trong đề tài này, trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn tôi khảo sát và đánh giá thái độ của học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP. Vinh – Tỉnh Nghệ An) về vấn đề bạo lực giữa các học sinh với nhau. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thái độ của học sinh trong trường về vấn đề này.

SUMMARY

Attitude is a psychological phenomenon to be studied in social psychology. Attitudes toward school violence issues have great significance to the formation and personality development of students. The formation of positive attitudes to school violence will contribute to perfect personality for the students, improve the quality of life, ensure social order and safety. In this topic, based on theory and reality research, we examine and evaluate attitudes of students in Nghi Kim junior school (Vinh City - Nghe An province) about school violence. We also give some suggestions to improve students' attitude about this problem.

Mở đầu:

1. Đặt vấn đề:

Bạo lực học đường không là một vấn đề mới mẻ nhưng thời gian gần đây mới bùng phát một cách mạnh mẽ, mức độ và tính chất của hành vi này ngày càng nguy hiểm. Bạo lực học đường đang trở thành mối lo ngại của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Đây không phải là vấn đề của riêng mỗi quốc gia nào mà đã trở thành vấn nạn của toàn cầu.

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện tượng bạo lực giữa các em học sinh với nhau là do xuất phát từ nhận thức còn hạn chế và thái độ thờ ơ, dửng dưng của các em học sinh về vấn đề này. Việc hình thành thái độ tích cực đối với bạo lực học đường sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Từ những lý luận và thực tiễn trên, chứng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Thái độ của học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An) về vấn đề bạo lực học đường”.

2. Khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An)

- Khách thể khảo sát: 300 em học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An).

3. Phương pháp nghiên cứu:

Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi, và một số phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả.

4. Giả thuyết khoa học

Chúng tôi đặt ra giả thuyết là: Học sinh trường trung học cơ sở Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An) nhìn chung đã có những hiểu biết nhất định về bạo lực học đường tuy nhiên sự hiểu biết này còn hạn chế. Các em có thái độ phản đối, lên án những hành vi bạo lực đó song chưa có hành vi can thiệp đúng mức.

Phần nội dung

1. Một số vấn đề lí luận:

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về bạo lực học đường

1.2. Cở sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Thái độ

Thái độ là trạng thái tinh thần có tính đặc trưng của con người, đó là sự sẵn sàng phản ứng với một đối tượng nào đó liên quan đến chủ thể và nó được thông qua kinh nghiệm, sự hiểu biết của con người. Thái độ có tác dụng điều chỉnh, ảnh hưởng hoặc tác động tới hành vi hoặc tình huống và khách thể mà nó tham gia. sự đánh giá thái độ là sự đánh giá theo hướng cụ thể là thái độ tiêu cực hoặc tích cực, không có thái độ một cách chung chung không rõ ràng.

1.2.2. Bạo lực học đường

Trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thái độ của học sinh đối với dạng bạo lực học đường giữa các học sinh với nhau trong phạm vi trường THCS Nghi Kim (TP Vinh - Nghệ An). Vì vậy, dựa trên định nghĩa về bạo lực học đường chúng tôi cho rằng: bạo lực giữa các học sinh với nhau là cách ứng xử, giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng nảy sinh trong học tập, sinh hoạt trong nhà trường giữa các học sinh bằng bạo lực.

1.2.3. Thái độ của học sinh THCS đối với vấn đề bạo lực học đường

1.2.3.1. Khái niệm học sinh THCS

1.2.3.2. Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS

1.2.3.3. Định nghĩa thái độ của học sinh THCS đối với vấn đề bạo lực học đường

Thái độ của học sinh THCS về vấn đề bạo lực học đường là những đánh giá, những phản ứng tích cực hay tiêu cực của các em học sinh đối với các hành vi, hình thức, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực giữa các em học sinh với nhau.

1.2.3.4. Những biểu hiện về thái độ của học sinh trường THCS Nghi Kim đối với vấn đề bạo lực học đường giữa các em học sinh với nhau

2. Thực trạng thái độ của học sinh trường THCS Nghi Kim đối với vấn đề bạo lực học đường:

2.1. Mô tả vài nét về khách thể nghiên cứu

2.2. Mô tả phương pháp nghiên cứu

2.3. Kết quả nghiên cứu

2.3.1. Thái độ của học sinh đối với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở mặt nhận thức

Nhìn chung các em học sinh đã có những hiểu biết nhất định về bạo lực học đường song sự hiểu biết này vẫn còn hạn chế, nhiều em nhận thức còn nhiều thiếu sót. Đa số học sinh trường THCS Nghi Kim (TP Vinh – Nghệ An) đạt ở mức độ nhận thức trung bình - loại B, chiếm 54,6 %; mức độ nhận thức cao chiếm tỉ lệ ít hơn - loại A, chiếm 33,4 %; còn lại 12% học sinh đạt mức độ nhận thức kém – loại C.

Các em hiểu biết khá tốt về khái niệm bạo lực giữa các học sinh với nhau ( 71% số học sinh chiếm loại A) song nhận biết còn kém về các hình thức bạo lực (25,7% học sinh đạt loại A), hậu quả của bạo lực học đường (18% học sinh đạt loại A),…

2.3.2. Thái độ của học sinh đối với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở mặt xúc cảm

Phần lớn các em học sinh trường THCS Nghi Kim có thái độ xúc cảm tích cực đối với vấn đề bạo lực học đường, chiếm 83% số học sinh được hỏi; bao gồm các lĩnh vực như cảm xúc trước tình trạng bạo lực học đường hiện nay, cảm xúc khi chứng kiến hành vi bạo lực giữa các học sinh, cảm xúc khi là người gây ra hành vi bạo với học sinh khác, cảm xúc khi là người bị bạo lực,…Còn lại 17% học sinh có thái độ xúc cảm tiêu cực, chưa tốt về vấn đề này.

Sự khác biệt về cảm xúc giữa học sinh nam và học sinh nữ là không lớn.

2.3.3. Thái độ của học sinh đối với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở mặt hành vi

Hành vi của các em học sinh đối với vấn đề bạo lực học đường thể hiện ở các lĩnh vực như: Hành vi khi chứng kiến bạo lực học đường, hành vi ứng xử khi bị bạo lực, hành vi ứng xử khi xảy ra mâu thuẫn,… Đa phần các em học sinh có hành vi tích cực đối với vấn đề bạo lực học đường (90,8% số học sinh được hỏi), chỉ có 9,2% học sinh có hành vi tiêu cực về vấn đề này. Sự chênh lệch giữa hành vi tích cực của học sinh nam và nữ là không đáng kể.

* Kết quả đánh giá thái độ của học sinh về vấn đề bạo lực học đường thông qua việc đánh giá riêng từng phiếu điều tra:

Có 166 học sinh thuộc loại thái độ chưa tích cực, chiếm 55,3% số học sinh được điều tra, xếp loại B. Số lượng học sinh thuộc thái độ tích cực chiếm tỷ lệ ít hơn, chỉ có 86 em chiếm 28,7%, xếp loại A. Còn lại 48 em thuộc loại thái độ tiêu cực, xếp loại C, chiếm 16%. Thái độ của học sinh trường THCS Nghi Kim về vấn đề bạo lực học đường là không cao; các em có hiểu biết về vấn đề này nhưng chưa nhiều, còn hạn chế, chưa có hành vi can thiệp đúng mức. Tuy chỉ có một số lượng nhỏ học sinh có thái độ kém về vấn đề bạo lực học đường, song chính nó đã góp phần là cho tình hình bạo lực học đường vẫn còn tiếp diễn.

2.3.4. Nguyên nhân thực trạng thái độ của học sinh trường THCS Nghi Kim đối với vấn đề bạo lực học đường.

Các em học sinh nhận thức về vấn đề bạo lực học đường chủ yếu là do được giáo dục ở nhà trường, chiếm 37%; tuy nhiên con số này chưa phải là nhiều. Tiếp đến là do tìm hiểu qua báo chí và các phương tiện truyền thông, chiếm 24,7% số lựa chọn chứng tỏ các phương tiện truyền thông có tác động rất lớn đến nhận thức của học sinh. Tiếp theo là nguyên nhân do kinh nghiệm của bản thân và quan sát từ các vụ bạo lực nơi trường học, chiếm 20,7% số học sinh lựa chọn. Cuối cùng, chỉ có 17,7% học sinh được hỏi cho rằng sự nhận thức của mình về bạo lực học đường là do được giáo dục trong gia đình.

2.4. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập môn tâm lí học

- Nâng cao nhận thức của học sinh nói về bạo lực học đường, để từ đó các em có nhận thức đúng đắn, thái độ và hành vi tích cực về vấn đề này.

- Cần có biện pháp quản lý, ngăn chặn và chế tài hiệu quả những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hóa xã hội. Nghiêm cấm các trò chơi, truyện, sách báo có nội dung bạo lực. Dư luận xã hội cần lên án mạnh mẽ tình trạng bạo lực học đường hiện nay

- Nhà trường cần chú trọng thêm về vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, dạy cho các em kỹ năng sống nhằm nâng cao hành vi tích cực của các em về bạo lực học đường.

- Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình - nhà trường - xã hội. Trường học phối hợp với gia đình xây dựng các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu thái độ xung đột của các em đồng thời giúp các em biết cách hòa đồng và biết lựa chọn những hành vi tích cực thay vì bạo lực.

Kết luận khuyến nghị

1. Kết luận

Những kết quả của nghiên cứu cho phép đi đến kết luận rằng việc hình thành thái độ tích cực đối với vấn đề bạo lực học đường cho các em học sinh là vô cùng cần thiết. Đa số học sinh trường THCS Nghi Kim – TP Vinh – Nghệ An đã có những hiểu biết nhất định về bạo lực giữa các học sinh với nhau, song sự hiểu biết này còn có nhiều hạn chế. Nhìn chung, các em có thái độ tích cực, lên án, phản đối bạo lực học đường, có hành vi tích cực trong một số tình huống cụ thể. Tuy nhiên, vẫn còn một phần nhỏ các em học sinh có thái độ tiêu cực, chưa có hành vi can thiệp đúng mức. Vì vậy, gia đình, nhà trường và xã hội cần phải có những giải pháp thiết thực cũng như phối hợp cùng nhau để phòng chống, ngăn chặn kịp thời thực trạng này.

2. Khuyến nghị

- Đối với học sinh

- Đối với gia đình

- Đối với nhà trường

- Đối với nhà nước và các tổ chức xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Quang Uẩn (2003), Tâm lý học đại cương, NXB ĐHQG Hà Nội.

[2] Lê Thị Duyên (2009), Thái độ của người dân phường Hòa Khánh Nam quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng về vấn đề bạo lực gia đình đối với người phụ nữ, Luận văn tốt nghiệp.

[3] Lê Nhị Hà (2004), Giáo trình Tâm lý học phát triển, Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng.

[4] Lê Văn Hồng – Lê Ngọc Lan – Nguyễn Văn Thàng (2007), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội.

[5] Dương Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, NXB Khoa học xã hội.

[6] Phạm Minh Hạc (1980), Nhập môn Tâm lý học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[7] Trần Hiệp (1996), Tâm lý học xã hội – những vẫn đề lý luận, NXB khoa học xã hội, Hà Nội

[8] Bùi Văn Huệ - Vũ Dũng (2003), Tâm lý học xã hội, NXB ĐHQG Hà Nội.

[9] Website: www.baomoi.com

[10] Website: www.tin247.com

[11] Website: www.vovnews.vn

[12] Website: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

[13] Website: www.sggp.org.vn

[14] Website: www.vtv.vn

[15] Website: www.Giadinh.Net.vn

[16] Website: www.giaoduc.edu.vn

[17] Website: www.phapluattp.vn

[18] Website: www.humanillnesses.com

[19] Website: www.vanmau.com

[20] Website: www.duytanchool.com

[21] Website: www.dayhocintel.net

Toàn văn khóa luận

Keyword(s):
NguyenVietHung.rar
:

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Stress là vấn đề của con người ở mọi thời đại và dường như đó là một phần tất yếu không thể tránh được trong cuộc sống của mỗi người. Bởi vậy, dù muốn hay không muốn chúng ta cũng phải học cách sống chung với nó.

Năm 1992, tổ chức Liên Hợp Quốc đã đưa ra một bản báo cáo mang tên “Bệnh tật trong thế kỷ XX”. [8, trang 7]. Trong đó, có việc cảnh báo stress có thể mang nhiều nguy cơ gây hại cho cuộc sống của con người ở thế kỷ XXI. Những rối loạn tâm thần, thường cũng do stress gây ra như: các rối loạn lo âu ám sợ; phản ứng với stress trầm trọng và các rối loạn sự thích ứng...

Stress nói chung là trạng thái căng thẳng về tâm lý. Stress xuất hiện ở con người nói chung và trong cuộc sống, trong hoạt động học tập của học sinh nói riêng, có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đến hiệu quả hoạt động học tập của họ.

Theo một nghiên cứu gần đây “Stress trong học tập của học sinh THPT” của Phạm Thanh Bình, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội phần lớn số học sinh được điều tra đang ở mức độ báo động có tới 143/150 học sinh, chiếm 95,23% học sinh trong tổng số học sinh được điều tra (tức là từ 60 đến 90 điểm) theo phân loại của Soly – Bensabal.

Như vậy, stress của học sinh hiện nay là vấn đề báo động, nếu như chúng ta không có những biện pháp và hướng giải quyết khoa học thì để lại những hậu quả khôn lường không chỉ đối với chính những học sinh đó mà cả gia đình và xã hội.

Đã có nhiều nghiên cứu về stress và cũng như mối liên hệ giữa stress với các yếu tố khác như stress với ung thư, stress với nhận thức hay stress với nghề nghiệp,... Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về mối liên hệ giữa khí chất và stress, nhất là mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh THPT.

Với tính cấp thiết đó, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa khí chất và stress của học sinh trường THPT Hà Huy Tập – Hà Tĩnh”. Đề tài không những cho chúng ta biết được thực trạng các kiểu khí chất và stress, mối liên hệ giữa khí chất và stress mà cả xu hướng stress của các kiểu khí chất, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp giúp học sinh phòng chống stress phù hợp với kiểu khí chất của mình.


TOÀN VĂN ĐỀ TÀI

Keyword(s):
VoThiNha.rar
:

ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU DU LỊCH CỦA KHÁCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG KHI ĐẾN ĐÀ NẴNG

THE CHARACTER ABOUT THAI LAN VISITOR’NEEDS BELONG TO THE PROMOTIVE TRAVELLING CENTRE OF DA NANG WHEN THEY CAME

DA NANG CITY

SVTH: Võ Thị Nhã

Lớp 06CTL

GVHD: Th.s Tô Thị Quyên

TÓM TẮT

Đối với Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng hiện nay thì việc tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch Thái Lan là rất cần thiết. Thông qua đề tài này, giúp Trung Tâm có những giải pháp trong việc tổ chức các chương trình du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách Thái Lan khi đến Đà Nẵng.

SUMMARY

With The Promotive Travelling Centre Of Da Nang now, Meeting the needs of Thai Lan visitor is very necessary. Through this survey, It will help the centre have the solutions give the tour programs to satify their’ needs about the services when they visit Da Nang City.

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng là một trung tâm có uy tín trong lĩnh vực du lịch của thành phố, chuyên tổ chức các tour cho du khách khi đến đây. Hàng năm,Trung tâm đã đón tiếp hàng trăm lượt khách du lịch. Trong đó có một lượng không nhỏ khách du lịch đến từ Thái Lan. Mặc dù, Trung tâm đã có kinh nghiệm trong việc tổ chức các chương trình du lịch cho du khách quốc tế nhưng đối với thị trường tiềm năng như Thái Lan trong thời gian tới thì cần có những nghiên cứu để khai thác một cách tốt nhất.

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài : “Tìm hiểu đặc điểm nhu cầu của khách du lịch Thái Lan thuộc Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng khi đến Đà Nẵng”.

2. Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch Thái lan thuộc TTXTDLĐN

- Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp thiết kế các sản phẩm du lịch đồng thời xây dựng và triển khai các chiến dịch xúc tiến hướng vào thị trường khách du lịch Thái Lan.

3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu của khách du lịch Thái Lan khi đến Đà Nẵng

3.2Khách thể nghiên cứu

- Khách du lịch Thái Lan thuộc TTXTDLĐN khi đến tham quan du lịch Đà Nẵng.

- Hướng dẫn viên tiếng Thái thuộc trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng

3.3 Đối tượng khảo sát

- 150 Khách du lịch Thái Lan và 6 Huớng dẫn viên tiếng Thái thuộc TTXTDLĐN

4. Giả thuyết khoa học

- Nhu cầu của khách du lịch Thái Lan thuộc Trung tâm xúc tiến du lịch Đà nẵng khá phong phú, mức độ đòi hỏi cao

- Khả năng chi tiêu của du khách Thái tại Đà Nẵng không nhiều

- Khả năng quay lại Đà Nẵng của khách Thái cao

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận theo khía cạnh tâm lý học về nhu cầu của du khách

Tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch Thái Lan thuộc TTXTDLĐN

Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tổng hợp và phân tích lí luận

6.2Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn .

6.3 Phương pháp toán học: Thống kê và xử lí số liệu

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

I. Các khái niệm cơ bản

1. Các vấn đề lí luận về Nhu cầu

1.1 Một số quan niệm về nhu cầu

1.2Khái niệm nhu cầu

Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu của con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.

1.3Phân loại nhu cầu

Hệ thống nhu cầu của con người rất đa dạng, có nhiều cách phân loại khác nhau:

Một trong những học thuyết được nhắc đến nhiều nhất là lí thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow. Và cũng là cách phân loại phù hợp với nội dung đề tài nghiên cứu.

1.4 Đặc điểm của nhu cầu

Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng:

Nhu cầu có tính ổn định:

• Phương thức thỏa mãn nhu cầu:

Trạng thái ý chí- cảm xúc:

Nhu cầu có tính chu kì:

1.5 Sự hình thành nhu cầu

2. Các vấn đề lí luận về du lịch và khách du lịch (du khách)

2.1 Du lịch

2.1.1 Khái niệm du lịch

Theo I.I Pỉôgiơnic (1985 – Liên xô cũ) Thuật ngữ du lịch bao gồm 3 nội dung:

- Cách thức sử dụng thời gian nhàn rỗi ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên .

- Một dạng chuyển cư đặc biệt tạm thời .

- Một ngành kinh tế phi sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa xã hội của người dân.

2.1.2 Các loại hình du lịch

a. Phân loại theo nhu cầu của du khách

b.Phân loại dựa vào nơi cư trú.

c. Phân loại căn cứ vào cách tổ chức du lịch:

2.1.3 Nhu cầu du lịch của con người

Nhu cầu du lịch là một nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người. Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý ( sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần ( nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức và giao tiếp).

2.2 Khách du lịch(du khách)

2.2.1 Khái niệm khách du lịch

Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến nơi có điều kiện để nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe, tham quan, vãn cảnh, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức cái mới lạ , hoặc kết hợp việc nghỉ ngơi với hội họp, kinh doanh, nghiên cứu khoa học…

2.2.2 Phân loại khách du lịch

a. Khách du lịch

b. Khách tham quan

2.2.3 Các nhu cầu của khách du lịch

a. Nhu cầu vận chuyển

b. Nhu cầu ở và ăn uống

c. Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí

d. Các nhu cầu khác

II. Tổng quan về điều kiện du lịch Đà Nẵng và Trung tâm xúc tiến du lịch ĐN

1. Những tiềm năng du lịch Đà Nẵng

1.1 Vị trí và tiềm năng du lịch của thành phố Đà Nẵng

1.2 Tiềm năng về sản phẩm du lịch

a. Các khu điểm du lịch, loại hình du lịch và chương trình tour phong phú

b. Cơ sở vật chất du lịch

1. 3 Tình hình khách đến tham quan du lịch Đà Nẵng năm 2009

1. 4 Kế hoạch và hướng phát triển trong thời gian đến.

1.5 Tình hình đầu tư phát triển các dự án du lịch.

2. Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng

III. Đặc điểm tâm lý của khách du lịch Thái Lan

Chương II: PHƯƠNG PHÁP VÀ QUI TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp điều tra nghiên cứu:

1.1 Phương pháp phân tích , tổng hợp lý thuyết

1.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket)

1.3 Phương pháp phỏng vấn

1.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

2. Qui trình tổ chức nghiên cứu

2.1 Qui trình chọn mẫu

2.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

2.3 Địa điểm tiến hành

2.4 Người tiến hành

2.5 Cách tiến hành

Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN THUỘC TTXTDLĐN KHI ĐẾN ĐÀ NẴNG

A. NGUỒN THÔNG TIN KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG KHI ĐI DU LỊCH ĐÀ NẴNG

1. Theo điều tra khách du lịch Thái Lan

Nguồn thông tin về du lịch Đà Nẵng được khách du lịch Thái Lan tham khảo chủ yếu là họ tham vấn bạn bè và các công ty, đại lý du lịch.

B. ĐẶC ĐIỂM VỀ NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG

1. Một số đặc điểm cơ bản của nhóm khách du lịch Thái Lan thuộc Trung Tâm Xúc Tiến Du Lịch Đà Nẵng

1.1. Về khu vực địa lý: Đa số khách du lịch đến từ vùng Đông Bắc và Trung Thái Lan

1.2. Về giới tính, độ tuổi: Khách khách du lịch Thái Lan đến Đà Nẵng nam chiếm đa số( gấp gần 3 lần so với du khách nữ).Theo quan sát của đa số các HDV thì phần lớn các du khách Thái Lan đến Đà Nẵng ở độ tuổi trung niên

1.3 . Về nghề nghiệp

1.4. Về số lần đến Đà NẵngCó 82,3% (112 khách) đến Đà Nẵng lần đầu tiên, 10,8% (15khách) đến lần thứ 2 và có rất ít khách đến nhiều hơn 2 lần.

1.5 Mục đích chuyến đi và nguyên nhân chọn tham quan Đà Nẵng

1.5.1 Mục đích chuyến đi

Không nằm ngoài dự kiến thì theo điều tra cho thấy: đa phần khách Thái Lan đến Đà nẵng với mục đích du lịch thuần túy.

1.5.2 Nguyên nhân khách Thái Lan chọn Đà Nẵng làm điểm tham quan

36,8% chọn Đà Nẵng vì nơi đây có nhiều điểm tham quan du lịch. 24,5%cho rằng họ đến Đà Nẵng để cảm nhận nét văn hoá riêng biệt của thành phố.Với những nguyên nhân tìm đến Đà Nẵng của du khách vừa được trình bày ở trên, thời gian lưu lại Đà Nẵng không nhiều, trung bình khoảng gần 2 ngày

1.6 Các hoạt động được du khách Thái Lan ưa thích trong chuyến đi đến ĐN

Shopping là hoạt động được các du khách Thái Lan yêu thích nhất

2. Đặc điểm sử dụng các dịch vụ du lịch của khách du lịch Thái Lan

2.1 Loại hình và cấp hạng khách sạn lưu trú

Khách sạn là loại hình lưu trú được coi là phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của khách Thái Lan nhất .Về cấp hạng khách sạn, thật đáng ngạc nhiên khi rất nhiều khách Thái Lan chọn các khách sạn 4-5 sao để lưu trú .

2.2 Hình thức tổ chức chuyến đi:Chủ yếu mua chương trình tour tại các công ty du lịch,

2.3 Các điểm tham quan ngoài Đà Nẵng

3. Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các dịch vụ du lịch

3.1 .Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các đặc điểm của cơ sở lưu trú:Trong các tiêu chí, khách Thái Lan coi trọng giá cả nhất.

3.2 Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các đặc điểm của cơ sở ăn uống: Khác với việc ở, khi đi ăn uống, khách Thái Lan rất quan tâm đến sự vệ sinh của nhà hàng

3.3 Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các hoạt động vui chơi, giải trí: Với các du khách được điều tra thì họ tỏ ra rất ưa thích những hoạt động như du thuyền trên sông Hàn và xem các trò chơi bản xứ.

3.4 Đánh giá mức độ quan tâm của khách du lịch Thái Lan tại TTXTDLĐN đối với các sản phẩm mà khách du lịch Thái Lan quan tâm khi mua sắm:Họ cho thấy sự quan tâm khá cao đến hàng lưu niệm, đồ mỹ nghệ.

4. Đánh giá chung về khả năng chi tiêu cho chuyến đi của khách du lịch Thái Lan

C. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ QUAY TRỞ LẠI ĐÀ NẴNG CỦA KHÁCH DU LỊCH THÁI LAN THUỘC TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG

Qua số khách du lịch Thái Lan được điều tra tại Trung tâm thì có có 91 khách (chiếm 67,4%)có ý định quay lại Đà Nẵng

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

2. Khuyến nghị

. Tài liệu tham khảo

TOÀN VĂN


Keyword(s):

Page:  1  2  3  4  (Next)
  ALL