Printer-friendly version
Các công trinh NCKH sinh viên


Browse the glossary using this index

Special | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N | O
P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z | ALL

Page:  1  2  (Next)
  ALL

0

:

HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM

PHYSICAL EDUCATION LEARNING INTEREST AMONG STUDENTS IN QUANG NAM UNIVERSITY

SVTH: Lương Thị Kim Chi, Trần Thị Kim Ngân

Lớp 07CTL, Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: ThS. Lê Thị Phi

Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện, là một nội dung quan trọng ở bậc Đại học nhằm tạo ra một thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam khỏe mạnh hơn. Hứng thú học tập giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập. Nhận thức được điều này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Quảng Nam, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp hình thành và nâng cao hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất cho sinh viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn học này.

ABSTRACT

Physical education is one of the goals of well-rounded education, an important content in university to create a generation of young, healthy Vietnamese students. Learning interest plays an important role in improving the effect of study. Recognizing this, we conducted a research on “Physical education learning interest among students in Quang nam university”, on which base propose actions to form and raise interest in students about Physical education with the aim to improving the quality of teaching and learning this subject

1. Mở đầu

1.1. Lý do chọn đề tài

Việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục thể chất (GDTC) cho học sinh, sinh viên là vấn đề cấp bách hiện nay, đây là một nội dung bắt buộc trong chương trình đào tạo ở bậc Đại học. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc học tập môn GDTC của sinh viên (SV) ở nhiều trường Đại học nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, không ít sinh viên sợ GDTC, coi việc học GDTC là một việc mệt nhọc, những kỳ thi là cực hình…Hứng thú học tập giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các quá trình học tập. Việc hình thành hứng thú học tập môn GDTCt sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn học này, góp phần tăng thêm lòng yêu thích, cũng như trách nhiệm của sinh viên đối với việc rèn luyện sức khỏe của bản thân.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Nghiên cứu các tài liệu liên quan trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa những thông tin thu được về hứng thú, về việc học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên…Trên cơ sở đó viết cơ sở lý luận cho đề tài, lựa chọn các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, xây dựng phiếu hỏi để tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu.

1.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Chúng tôi tiến hành xây dựng phiếu hỏi để thu thập thông tin về nhận thức của SV về môn học, xúc cảm của sinh viên đối với môn học và hành động học tập môn GDTC của SV. Sau đó, chúng tôi tiến hành phát phiếu hỏi để thu ý kiến của 200 SV hệ chính quy của trường ĐHQN.

- Phương pháp quan sát

Chúng tôi tiến hành quan sát các giờ học Giáo dục thể chất của sinh viên. Cụ thể quan sát việc đi học đầy đủ, đúng giờ, trang phục của sinh viên, việc chú ý theo dõi sự hướng dẫn của thầy giáo và việc tập luyện trên lớp.

-Phương pháp trò chuyện

Phương pháp trò chuyện được tiến hành trực tiếp với khách thể khảo sát là sinh viên và khách thể bổ trợ là giáo viên để thu được những thông tin nhằm bổ trợ về thực trạng hứng thú của sinh viên, đặc biệt nó cung cấp những thông tin mà bảng hỏi không thu thập hết được

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Thu thập và phân tích kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Quảng Nam học kỳ vừa kết thúc.

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.

Phương pháp này sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được từ phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm đưa ra những kết quả định lượng cho đề tài, làm cho kết quả nghiên cứu đảm bảo độ chính xác, tin cậy.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lý luận

2.1.1.Khái niệm chung về hứng thú

Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.

2.1.2. Khái niệm hứng thú học tập

Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân.

2.1.3. Hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN

GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”.

Hứng thú học tập môn GDTC là thái độ lựa chọn đặc biệt của người học đối với kết quả, quá trình của sự lĩnh hội và vận dụng những tri thức cũng như kỹ năng của môn học GDTC, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn học đối với bản thân.

Hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN biểu hiện ở mặt nhận thức, xúc cảm, hành động và kết quả học tập.

Gồm 3 mức độ: hứng thú cao, hứng thú trung bình, chưa có hứng thú.

2.2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN

2.2.1. Hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN thể hiện qua các mặt biểu hiện

a. Biểu hiện về nhận thức của SV trường ĐHQN với môn GDTC

Đa số SV trường ĐHQN nhận thức đúng, đầy đủ về môn học. SV năm 2 có nhận thức về môn học tốt hơn SV năm 1. SV nữ nhận thức tốt hơn SV nam. Qua phỏng vấn, các em nữ cho rằng mình thường quan tâm đến lý thuyết về GDTC hơn các em nam, ngược lại các em nam thường ít quan tâm đến những gì thuộc về lý thuyết mà thích thực hành, thích luyện tập các động tác và thường chơi các môn thể thao hơn các em nữ.

b. Biểu hiện về xúc cảm của SV trường ĐHQN với môn GDTC

Đa số SV đã có xúc cảm dương tính đối với môn học GDTC nhưng xúc cảm dương tính ở MĐ thấp. Giáo viên (GV) đánh giá MĐ xúc cảm của SV đối với môn học GDTC thấp hơn con số này. GV quan niệm một SV có hứng thú học tập môn GDTC phải thể hiện rõ các đặc điểm: thái độ tích cực, say mê tương đối ổn định và có hành vi tích cực, chủ động trong học tập, chứ không phải ở MĐ thích một cách cảm tính, nhất thời.

SV năm 1 có xúc cảm dương tính mạnh hơn SV năm 2. SV nam có xúc cảm dương tính với môn học GDTC hơn SV nữ.

c. Biểu hiện về hành động của SV trường ĐHQN với môn GDTC

Đa số SV có hành động ít tích cực đối với việc học tập GDTC. SV mới chỉ thực hiện các hành động học tập ở mức bình thường. Những hành động có yêu cầu cao, nói lên bản chất của hứng thú học môn GDTC ở đa số SV hiện còn ở mức độ thấp.

Chúng tôi cũng tiến hành quan sát các lớp học GDTC của SV và cũng nhận thấy trên lớp các em khá nghiêm túc.

SV năm 1 hành động tích cực hơn sinh viên năm 2. SV nam có MĐ hành động tích cực hơn SV nữ.

2.2.2. Tổng hợp MĐ hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN

Bảng 2.1. MĐ hứng thú của SV trường ĐHQN đối với việc học tập môn GDTC

Lĩnh vực

MĐ hứng thú

TSĐ

ĐTB

TB

A

B

C

Tổng cộng

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

Nhận thức

144

72

48

24

8

4

200

100

536

2.68

1

Xúc cảm

49

24.5

76

38

75

37.5

200

100

374

1.87

2

Hành động

39

19.5

95

47.5

66

33

100

100

373

1.87

2

Tổng hợp

34

17

58

29.5

107

53.5

200

100

327

1.64

SV trường ĐHQN chưa có hứng thú học tập môn GDTC ( = 1.64). Trong đó, mặt nhận thức tốt hơn nhiều so với 2 mặt kia. Mặt xúc cảm và hành động có điểm trung bình bằng nhau, điều này cho thấy xúc cảm đã chuyển hóa thành hành động, trở thành động lực thúc đẩy hành động. Tuy nhiên, nhận thức của SV rất tốt về môn học nhưng chưa chuyển hóa thành xúc cảm và hành vi, đây là điều đáng lưu ý khi đề ra biện pháp tác động.

Có sự chênh lệch về hứng thú học tập của SV nam và nữ đối với môn GDTC. SV nam có hứng thú cao hơn SV nữ. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do đặc điểm tâm lý, mối quan tâm của nam giới nhiều hơn nữ đối với thể dục thể thao, sức khỏe của các em nam cũng tốt hơn các em nữ nên có lẽ thuận lợi cho việc học tập môn này hơn

SV năm 1 có hứng thú đối với môn học GDTC hơn SV năm 2

2.2.3. Kết quả học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN

Đa số SV đạt kết quả loại trung bình và khá. Tuy kết quả không cao như vậy, nhưng khi được hỏi các em có hài lòng với kết quả của mình không, có trên 90% các em trả lời mình hài lòng với kết quả đó. Kết quả học tập phù hợp với kết quả đã nghiên cứu.

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn GDTC của SV: bản thân môn học, bản thân người SV và của người giáo viên.

Đa số SV hài lòng với việc đánh giá kết quả của các giáo viên, những hỗ trợ đối với sinh viên có sức khỏe yếu, các hoạt động ngoại khóa…nhưng về trang thiết bị, cơ sở vật chất của môn học đa số SV không hài lòng

2.4. Đề xuất một số biện pháp hình thành và nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho SV trường ĐHQN

Cần phải tác động vào cả nhận thức, hình thành xúc cảm cũng như hành động của SV: Về nhận thức: giáo viên (GV) cần giúp SV nhận thức đúng, đầy đủ về môn học, có giáo trình chính thức cho môn học GDTC. Về xúc cảm: tạo không khí thoải mái, vui vẻ trong giờ học, đánh giá công bằng, cải tiến nội dung, phương pháp dạy…Về hành động: tạo điều kiện học tập tốt, đưa vào dạy những môn học phù hợp đa số SV, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, khuyến khích SV tập TD buổi sáng…

3. Kết luận và khuyến nghị

3.1. Kết luận

Đa số SV trường ĐHQN chưa có hứng thú hoặc có hứng thấp đối với việc học tập môn học GDTC. Mặc dù các em đã có nhận thức tốt về môn học này nhưng xúc cảm và hành động biểu hiện của các em còn ở MĐ thấp. SV năm 1 hứng thú với môn học hơn SV năm 2. SV nam hứng thú hơn SV nữ.

3.2. Khuyến nghị

3.2.1. Đối với GV

GV cần áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong quá trình dạy học môn GDTC, cần thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp. GV cần xây dựng tốt mối quan hệ: thầy – trò, thường xuyên quan tâm, khuyến khích, kiểm tra, đánh giá đúng, công bằng…

3.2.2. Đối với bản thân SV

SV cần tự giác, nghiêm túc, tích cực trong học tập nói chung và đối với môn học GDTC nói riêng, rèn luyện cho mình thói quen tập luyện thể dục thể thao để rèn luyện sức khỏe.

3.2.3. Với các cấp quản lý

Cần thay đổi nội dung chương trình phù hợp hơn với sở thích và nguyện vọng của SV. Cập nhật đưa những nội dung, môn thể thao mới vào nội dung chương trình, cần xây dựng giáo trình chính thức cho môn học GDTC cho SV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Thị Bừng (2000), Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, NXB Đại học Sư phạm.

[2] Th.s. Nguyễn Thị Thu Cúc, Nghiên cứu đặc điểm hứng thú học môn Toán của học sinh tiểu học và biện pháp tâm lý sư phạm nâng cao hứng thú học môn Toán ở các em", Luận án tiến sĩ

[3] TS. Nguyễn Văn Đồng (2007), Tâm lí học phát triển (giai đoạn thanh niên đến tuổi già), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

[4] Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn (đồng Chủ biên) (2009), Từ điển Tâm lý học, NXB Giáo Dục Việt Nam.

[5] Nguyễn Quang Uẩn (2007), Tâm lý học Đại cương, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

[6] www.google.com.vn

[7] www.wikipedia.org..

Toàn văn báo cáo NCKH, Tóm tắt bài báo 5 trang, tải về tại đây




Keyword(s):
:

1. Đặt vấn đề

Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người. Cùng với hoạt động, giao tiếp là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của mỗi cá nhân. Nhờ tham gia vào hoạt động giao tiếp mà các đặc trưng xã hội của con người được hình thành, cá nhân lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội lịch sử, chuyển hóa thành những kinh nghiệm riêng của cá nhân, thành phẩm chất và năng lực của chính mình để tham gia vào đời sống xã hội.

Để lĩnh hội những tri thức đời thường, không thể thiếu được sự giao tiếp giữa con người với con người và để lĩnh hội những tri thức khoa học thì càng cần có giao tiếp giữa nhân cách này với nhân cách khác, đặc biệt là giao tiếp trong quá trình giáo dục. Thực tế đã chứng minh rằng: giao tiếp trong môi trường giáo dục giữa thầy và trò, giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, giúp cho cá nhân có thể lĩnh hội được những tri thức cần thiết bằng con đường nhanh nhất, trong khoảng thời gian ngắn nhất và đỡ tốn kém nhất, tạo điều kiện tối ưu nhất cho sự hình thành và sự phát triển nhân cách. Đối với hoạt động sư phạm, giao tiếp là điều kiện, phương tiện, nội dung của quá trình giáo dục học sinh. Chính vì vậy, đòi hỏi người giáo viên phải có kỹ năng giao tiếp sư phạm đạt ở mức hoàn hảo, đặc biệt là KNGQTHSP.

Trên thực tế, các tình huống sư phạm xảy ra hết sức đa dạng, muôn hình, muôn vẻ, đòi hỏi người giáo viên phải có khả năng linh hoạt, khéo léo và những hiểu biết sâu sắc về tâm sinh lý của tuổi học sinh, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh THCS. Đó thực sự là vấn đề không hề đơn giản vì không hiếm tình huống phức tạp, tế nhị liên quan đến mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh khiến các thầy cô không khỏi lúng túng trong cách giải quyết. Hàng loạt vụ việc không tôn trọng và chưa chú ý đến quyền lợi của học trò như: giáo viên bắt học trò quì dưới đất bò quanh lớp, xé vở, giựt tóc học trò hay chuyển học trò cho công an hỏi cung chỉ vì nghi ngờ học trò lấy chưa đầy 50 ngàn, thậm chí cả những chuyện thầy giáo gạ tình... nối tiếp nhau xuất hiện trên báo chí, hời gian vừa qua, hầu hết các nhà trường đã rất chú trọng tới việc trang bị kiến thức, phương pháp dạy học trên lớp, nhưng lại bỏ rơi việc trang bị kỹ năng hành xử, kỹ năng sư phạm. Hiện tượng này đang là hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội, đặc biệt đối với ngành giáo dục, vì vậy chúng ta cần làm sáng tỏ sự hạn chế về thực trạng KNGQTHSP của giáo viên dưới góc độ tâm lý học để có biện pháp khắc phục một cách kịp thời.

Từ sự phân tích trên, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng” để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân KNGQTHSP của giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng.

- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao KNGQTHSP của giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng.

3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu: KNGQTHSP của giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng.

3.2. Khách thể nghiên cứu: giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng.

3.3. Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Do điều kiện hạn chế, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu KNGQTHSP trong quan hệ giữa giáo viên và học sinh.

- Khách thể khảo sát: Khảo sát 70 giáo viên của trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – Thành phố Đà Nẵng.

- Địa điểm: Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng.

- Đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 03/2011. 

4. Giả thuyết khoa học

Nhìn chung giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng có KNGQTHSP ở mức độ chưa cao, là do nhiều nguyên nhân khác nhau.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của đề tài.

5.2. Tìm hiểu nguyên nhân và thực trạng KNGQTHSP của giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng.

5.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao KNGQTHSP của giáo viên

Trong 3 nhiệm vụ trên, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu 5.1 và 5.2.

6. Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: (Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết…) để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu .

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp quá trình giải quyết tình huống sư phạm của giáo viên trong hoạt động dạy học và giáo dục học sinh.

+ Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn các cán bộ quản lý và học sinh trong nhà trường nhằm tìm hiểu thêm về thực trạng KNGQTHSP của giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP. Đà Nẵng.

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến điều tra trên các đối tượng:

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.

Toàn Văn báo cáo, Tải về tại đây

Keyword(s):
:

THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VIỆC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ KHI ĐI MÔ TÔ, XE MÁY CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG

TRONG ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ATTITUDES TOWARD THE OBSERVANCE ROAD TRAFFIC LAW WHEN MOTORCYCLES, THE MOTORCYCLE IN SOME INSTANCES STUDENTS IN UNIVERSITY OF DA NANG

SVTH: Vũ Ngọc Duy (07CTL), Đặng Lai Thao (09CTL)

Lớp: 07CTL – 09CTL, Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: Th.S Tô Thị Quyên

Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Hiện nay an toàn giao thông là một vấn đề lớn, được cả xã hội quan tâm. Nhận thức được điều này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng. Với đề tài này chúng tôi tập trung nghiên cứu trên tổng thể ba mặt: nhận thức, xúc cảm – tình cảm, hành vi, cùng với đó là những nguyên nhân sinh viên vi phạm luật cũng như các cách thức tuyên truyền về luật giao thông, đặc biệt là những ý kiến đóng góp của các bạn sinh viên để nâng cao hơn nữa thái độ của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.

ABSTRACT

At present road safety is a big problem, to a whole care society. Acknowledging this we have conducted research on students in some schools in the University of Da Nang. With this topic we focus our attention on the overall study three aspects: cognitive, emotional - feelings, behavior, along with the students but the cause of violating the law as well as how to propagate the traffic rules information, especaially your comments, but students to further enhance the attitudes of students in some schools in the University of Danang for the observance of traffic rules when traveling mopeds and motorbikes.

1. Mở đầu

1.1. Lí do chọn đề tài

Sự phát triển của giao thông đường bộ là một biểu hiện của sự phát triển chung của nhân loại, tuy nhiên song song với nó là tình trạng vi phạm các quy định của luật giao thông gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và xã hội. Hiện nay, tình trạng SV vi phạm luật giao thông đường bộ có dấu hiệu ngày càng gia tăng. Sinh viên ở một số trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng vậy. Đây chính là lí do chúng tôi chọn đề tài này.

1.2. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ thái độ của SV ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy, chỉ ra thực trạng của vấn đề, từ đó đề xuất một số kiến nghị.

1.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Khách thể nghiên cứu: SV trường ĐHSP và ĐHBK thuộc ĐHĐN.

1.3.2. Khách thể khảo sát: 306 sinh viên thuộc trường ĐHSP và ĐHBK.

1.3.3. Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của SV trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông.

1.3.4. Phạm vi nghiên cứu: Trường ĐHBK và ĐHSP thuộc ĐHĐN

1.4. Giả thuyết khoa học

Khi tham gia giao thông, thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy của SV ở một số trường trong ĐHĐN còn chưa cao, có sự khác nhau giữa các trường, nam và nữ. Cụ thể chúng tôi đặt giả thuyết là những SV Trường ĐHSP – ĐHĐN sẽ chấp hành luật giao thông tốt hơn SV Trường ĐHBK – ĐHĐN vì họ được học tập, đào tạo để sau này là những người có trách nhiệm trong giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Vì vậy, ngay từ khi còn là SV họ đã phải ý thức được trách nhiệm tuân thủ các quy định của mình cao hơn những SV thuộc các trường khác.

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định cơ sở lý luận; Khảo sát thực trạng; Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi tham gia giao thông.

1.6. Các phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, phỏng vấn, điều tra bằng phiếu hỏi.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Những cơ sở lí luận của đề tài

1.2.1. Các lý thuyết về thái độ

1.2.2. Khái niệm thái độ

Thái độ là trạng thái tâm lý chủ quan của cá nhân, sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay ngược lại) đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi của chủ thể trong những tình huống, những điều kiện cụ thể.

1.3. Lý luận về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên.

1.3.1. Khái niệm về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ

Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy là trạng thái tâm lý chủ quan sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay tiêu cực) đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.

1.3.2. Thái độ của sinh viên ở một số trường trong ĐHĐN đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.

1.3.2.1. Khái niệm thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.

Thái độ của SV đối với việc chấp hành luật giao thông khi khi đi mô tô, xe máy là trạng thái tâm lý chủ quan của họ sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định (tích cực hay tiêu cực) đối với việc chấp hành luật giao thông khi khi đi mô tô, xe máy. Thái độ của SV đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm - tình cảm và hành vi của họ trong những tình huống, những điều kiện nhất định.

1.3.2.2. Các mặt biểu hiện của thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.

1.3.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khái quát về khách thể khảo sát

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 306 SV thuộc trường ĐHBK và ĐHSP thuộc ĐHĐN.

2.1. Quy trình nghiên cứu

Tiến hành thu thập và nghiên cứu các vấn đề lý luận, xây dựng bảng điều tra viết; Tiến hành nghiên cứu thực trạng; Phát phiếu điều tra; Phân tích; Xử lý các số liệu thu thập; Đề xuất một số khuyến nghị.

2.2. Các phương pháp nghiên cứu.

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. TĐ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (Bảng 3.1)

Đa số SV trường ĐHBK và ĐHSP được chọn nghiên cứu có TĐ tích cực đối với đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy. Tỷ lệ SV đạt TĐ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy loại A (Rất tích cực) và loại B (Tích cực) chiếm tỷ lệ cao (Loại A: 166 sinh viên, chiếm 54.3%; Loại B: 139 sinh viên, chiếm 45.4%). Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những SV có thái độ chưa tích cực.

Về thứ bậc các thành phần của thái độ (nhận thức, tình cảm, hành vi): Nhận thức xếp thứ hạng cao nhất, tình cảm xếp thứ hạng 2, hành vi xếp thứ hạng thấp nhất.

3.2. So sánh biểu hiện thái độ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy thể hiện qua các mặt.

3.2.1. So sánh thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành đúng luật giao thông khi đi mô tô xe máy thể hiện qua mặt nhận thức (Bảng 3.5)

Đa số các bạn SV trường ĐHBK và ĐHSP khi được điều tra đạt mức độ nhận thức tốt (Loại A) và nhận thức khá (Loại B), có 64.7% SV đạt mức loại A và 35.3% sinh viên đạt mức loại B.

Xét theo trường: SV của trường ĐHSP có nhận thức tốt hơn so với SV trường ĐHBK.

Xét theo giới tính: SV nam của trường ĐHSP có nhận thức tôt hơn so với nam ĐHBK; SV nữ của trường ĐHSP có nhận thức tôt hơn so với nữ ĐHBK.

3.2.2. Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành đúng luật giao thông khi đi mô tô xe máy thể hiện qua mặt xúc cảm, tình cảm (Bảng 3.9)

Đa số các bạn SV trường ĐHBK và ĐHSP khi được điều tra có xúc cảm, tình cảm tích cực (Loại A) và xúc cảm, tình cảm khá tích cực (Loại B), có 60.5% SV đạt mức loại A và 37.3% SV đạt mức loại B. Tuy nhiên vẫn có 2.2% SV có xúc cảm tiêu cực.

Xét theo trường: SV của trường ĐHSP có xúc cảm, tình cảm tích cực hơn so với SV trường ĐHBK.

Xét theo giới tính: SV nam của trường ĐHSP có xúc cảm, tình cảm tích cực hơn so với nam ĐHBK; SV nữ của trường ĐHSP có xúc cảm, tình cảm tích cực hơn so với nữ ĐHBK.

3.2.3. Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành đúng luật giao thông khi đi mô tô xe máy thể hiện qua mặt hành vi (Bảng 3.13)

Hành vi tham gia giao thông của SV khi đi mô tô, xe máy của các bạn SV là chưa tích cực, cụ thể: hành vi loại A chiếm có 52.6%, trong khi đó hành vi loại B chiếm một tỉ lệ khá lớn là 47.1%. Điều này chứng tỏ mặc dù nhận thức của các bạn là tốt nhưng việc chuyển từ nhận thức sang hành vi của các bạn còn hạn chế.

Xét theo trường: SV của trường ĐHSP có hành vi tích cực hơn so với SV trường ĐHBK.

Xét theo giới tính: SV nam của trường ĐHSP có hành vi tích cực hơn so với nam ĐHBK; SV nữ của trường ĐHSP có hành vi tích cực hơn so với nữ ĐHBK.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Đa số SV trường ĐHSP và ĐHBK có TĐ tích cực và khá tích cực đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (54.3%). Kết quả này là tương đối cao, tuy nhiên khi tiến hành đối chiếu với việc quan sát thì tình trạng SV vi phạm vẫn diễn ra, điều này chứng tỏ mặc dù nhận thực của các bạn sinh viên là khá tôt nhưng thực tế hành vi của các bạn lại không tốt.

TĐ của SV trường ĐHSP (bao gồm cả SV nam và nữ) tích cực hơn so với SV trường ĐHBK (bao gồm cả SV nam và nữ) đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy. Có sự khác biệt này là do đặc điểm của từng nghề, cũng như sự quan tâm, cách nhìn nhận và sự tham gia khác nhau.

Mỗi SV vi phạm luật an toàn giao thông là do những nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là tập trung vào do có việc gấp, bị trễ học; do tiện đường; do ý thức tự giác chưa cao; do luật giao thông; do ý thức chưa cao…

2. Khuyến nghị

- Bản thân mỗi SV phải tự nâng cao ý thức, nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân mình, phải có nhận thức đúng, đầy đủ về việc chấp hành các quy định của luật giao thông.

- Hiện nay, nhà trường mới chỉ thiên về giáo dục nhận thức cho SV về an toàn giao thông mà vẫn chưa chú ý đến giáo dục hành vi, thói quen khi tham gia giao thông. Vì vậy, nhà trường cần phải chú ý hơn nữa trong việc giáo dục hành vi, thói quen cho sinh viên thông qua các cuộc thi, hội thi….

- Với xã hội, tích cực phát động các chương trình như: tuần lễ an toàn giao thông, tháng an toàn giao thông…để từ đó nâng cao hơn nữa hiểu biết cũng như ý thức, tinh thần trách nhiệm của mọi người; tăng cường hơn nữa lực lượng giám sát, nâng cấp hệ thống đường sá….

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lê Thị Duyên (2009), Thái độ của người dân phường Hoà Khánh Nam, quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng về vấn đề bạo lực gia đình đối với người phụ nữ, Khoá luận tốt nghiệp.

[2] Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Chính tri quốc gia, HN

[3] Lê Văn Hồng (2007), Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội

[4] Nguyễn Thị Thuý Hường (2007), Thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng sư phạm, Luận văn tiến sĩ Tâm lý học, Bộ GD &ĐT, Viện chiến lược và Chương trình giáo dục.

[5] Triệu Thị Hải (2009), Thái độ của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng đối với hoạt động phòng chống ma tuý, Khoá luận tốt nghiệp

[6] Vũ Thị Nho (2005), Tâm lý học phát triển, NXB ĐHQG HN, HN

[7] Dương Thiệu Tống (2005), Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục, NXB KHXH, HN

[8] Hoàng Phê (2001), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng

Toàn văn đề tài, tóm tắt bài báo, báo cáo PP, Tải về tại đây

Keyword(s):
:

HỨNG THÚ THAM GIA HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

INSPIRATION ENGAGED IN HIV / AIDS OF UNIVERSITY STUDENTS PEDAGOGY - UD

SVTH: Trần Thị Thanh

Lớp 07CTL, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà nẵng

GVHD: Th.s Bùi Văn Vân

Khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà nẵng

TÓM TẮT

AIDS đã và đang lây lan nhanh chóng và có khả năng giết người hàng loạt. AIDS đã trở thành một trong bốn vấn đề toàn cầu( hòa bình, dân số, môi trường, AIDS).Lần đầu tiên người ta phát hiện ra bệnh AIDS năm 1981 tại Hoa Kỳ. Nguyên nhân của bệnh này do một loại virut có tên HIV, trung bình mỗi phút lại có 5 người nhiễm HIV. Việc phòng chống HIV/AIDS trở nên cấp bách và cần thiết trong toàn dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng. Sinh viên trường sư phạm – những thầy cô giáo tương lai có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục phòng chống HIV/AIDS. Trong đề tài này, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn chúng tôi đánh giá mức độ hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên sư phạm. Từ đó đề xuất một số biện phám nhằm nâng cao hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường ĐHSP – ĐH Đà Nẵng.

 ABSTRACT
 AIDS has spread quick and is capable of mass murder. AIDS has become one of the four global issues (peace, population, environment, AIDS). For the first time wediscovered the AIDS disease in the United States in 1981. The cause of this disease is caused by a virus called HIV, the average per minute with 5 people infected with generation. Pedagogy students – future teachers have an important role in the propagation and education on HIV/AIDS. In the subject, on the basic of theoretical research and practical assessment of our interest in participating in HIV/AIDS for teacher’s students. Since then sugests some measures to raise interest in products involved in HIV / AIDS DHSP school students - University of Da Nang.

Phần mở đầu

1. Đặt vấn đề

Chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS vì các lí do sau:

Đại dịch AIDS đã và đang đe doạ tới tính mạng của tất cả mọi người trên thế giới. AIDS đe doạ tiêu diệt tất cả không phân biết màu da, giới tính, già trẻ, giầu nghèo.

Năm 1981 lần đầu tiên người ta phát hiện ra trường hợp mắc bệnh AIDS. Thủ phạm gây ra bệnh AIDS là một loại virut có tên HIV. Từ đó đến nay số người nhiễm HIV, AIDS tăng lên với tốc độ đáng sợ. Cứ mỗi ngày qua đi lại có khoảng 8000 – 8500 người mới nhiễm HIV, như vậy trung bình một phút lại có 5 người nhiễm HIV.

Tại thành phố Đà nẵng phát hiện ca nhiễm HIV/AIDS đầu tiên vào năm 1993, đến nay thành phố này đã có 308 người chết vì HIV/AIDS.

Việc phòng chống HIV/AIDS trở nên cấp bách và cần thiết trong toàn dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng.

Sinh viên sư phạm – những thầy cô giáo tương lai có vai trò quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục phòng chống HIV/AIDS. Việc hình thành, nâng cao hứng thú hoạt động, đặc biệt hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS có tác dụng to lớn đối với bản thân và xã hội, góp phần nâng cao nhận thức và cách phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này.

2. Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài chúng tôi sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu lý thuyết với phương pháp nghiên cứu thực tiễn (điều tra bằng Angket, phỏng vấn, và phương pháp thống kê toán học).

2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu, tham khảo, cố gắng nắm bắt những gì đã được đề cập đến ở trong nước và ngoài nước từ trước đến nay có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các phương pháp có liên quan đến đề tài, các luận chứng để lý giải các kết quả. Từ đó phân tích tổng hợp thành cơ sở lý luận của đề tài.

2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.2.1. Phương pháp nghiên cứu bằng Angket( phiếu xin ý kiến)

Mục đích của phương pháp là để thu thập thông tin về hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng.

Xây dựng phiếu hỏi trên để tìm hiểu: Nhận thức của sinh viên sư phạm về kiến thức HIV/AIDS, ý nghĩa, tác dụng của hoạt động phòng chống HIV/AIDS, mức độ yêu thích đối với hoạt động này, biểu hiện tính tích cực của sinh viên khi tham gia hoạt động, và nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong sinh viên sư phạm.

2.2.2. Phương pháp trò chuyện

Sử dụng phương pháp này nhằm chính xác hoá thông tin và làm rõ những nguyên nhân của việc hứng thú hay chưa hứng thú đối với hoạt động phòng chống HIV/AIDS.

2.2.3. Phương pháp sử dụng toán học trong thống kê

Dùng phương pháp xử lý thống kê, tính các chỉ số cơ bản như phần trăm (%) để kiểm chứng giả thuyết khoa học.

Phần nội dung

1. Một số vấn đề lý luận:

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề

1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Hứng thú

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.[6]

1.2.2. Hứng thú tham gia hoạt động

Hứng thú tham gia hoạt động chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động nào đó, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm, mang lại sự khoái cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống của cá nhân

1.2.3. Hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên ĐHSP Đà Nẵng

a. Vài nét về hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại trường ĐHSP Đà Nẵng.

b. Định nghĩa

Hứng thú tham gia hoạt động phòng ,chống HIV/AIDS của sinh viên sư phạm là thái độ lựa chọn đặc biệt của sinh viên đối với nội dung và hình thức của hoạt động phòng chống HIV/AIDS, biểu hiện thành những đánh giá riêng. Do ý nghĩa thiết thực, hấp dẫn, cuốn hút về mặt tình cảm của hoạt động trong cuộc sống trong quá trình học tập, làm việc của mỗi sinh viên.

c. Những biểu hiện của hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên

2. Kết quả khảo sát thực tế

Khảo sát 200 sinh viên thuộc hai khối Tự nhiên và Xã hội trường ĐHSP Đà Nẵng chúng tôi thu được kết quả sau:

2.1. Mức độ hứng thú của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng với hoạt động phòng chống HIV/AIDS( xem bảng 1)

Đa số sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng được chọn nghiên cứu có hứng thú ở mức độ 2 ( nhận thức đúng, chưa đầy đủ; có xúc cảm dương tính khi tham gia hoạt động, tính tích cực trong hoạt động thấp) chiếm 73,1%. Tiếp theo là mức độ 3 (nhận thức thấp, chưa hình thành cảm xúc dương tính tích cực, tính tích cực trong hoạt động thấp) chiếm 20,2 %. Tỷ lệ sinh viên đạt mức độ 1 (có nhận thức tốt, có xúc cảm dương tính khi tham gia, tính tích cực trong hoạt động cao) rất thấp chiếm 7,7%. Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau: nguyên nhân tích cực và chưa tích cực. Đa số sinh viên lựa chọn nguyên nhân xuất phát từ bản thân mình. Đây là điều đáng mừng.

Giữa hai khối Tự nhiên Xã hội có biểu hiện hứng thú khác nhau, tuy nhiên sự khác nhau đó không đáng kể.

2.2. Hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng thể hiện qua mặt nhận thức

- Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng về HIV/AIDS ( xem bảng 2)

Sinh viên nhận thức khá tốt về các nội dung HIV/AIDS mà chúng tôi đưa ra. Ở từng nội dung có sự khác nhau về mức độ nhận thức.

- Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động( xem bảng 3)

Có tới 170/183 sinh viên, chiếm 92,9% cho rằng hoạt động phòng chống HIV/AIDS là rất quan trọng; có12/183 sinh viên, chiếm 6,5% cho rằng hoạt động phòng chống HIV/AIDS là quan trọng; và chỉ có 1 sinh viên cho rằng hoạt động này ít quan trọng, và đặc biệt là không có sinh viên nào cho rằng hoạt động này không quan trọng

- Nhận thức về tác dụng của việc tham gia hoạt động( xem bảng 4)

Trong những tác dụng chúng tôi đưa ra, đa số sinh viên lựa chọn tác dụng: Đem lại những hiểu biết nhất định về HIV/AIDS, chiếm 32,1% xếp thứ 1; Xếp thứ hai là tác dụng làm tăng thêm ý thức của mỗi người về căn bệnh này, chiếm 18,0%. Còn lại là các tác dụng khác.

Qua quá trình khảo sát chúng tôi được biết: đa số sinh viên có những kiến thức về HIV/AIDS thông qua những tin tức trên mạng, báo chí, ti vi.

2.3. Hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng thể hiện qua mặt xúc cảm, tình cảm

- Mức độ yêu thích của sinh viên với hoạt động( xem bảng 6)

Đa số sinh viên thích hoạt động phòng chống HIV/AIDS có 88/183 sinh viên chiếm 48,1%, xếp bậc 1; xếp bậc 2 là mức độ bình thường chiếm 29,0% , xếp bậc 3 là mức độ rất thích, chiếm 22,4% trong tổng số sinh viên. Chỉ có 1/183 sinh viên không thích hoạt động này, chiếm 0,5%.

- Hứng thú của sinh viên đối với nội dung và hình thức khi tham gia hoạt động( xem bảng 7, 8)

Đa số sinh viên có mức hứng thú ( loại B) đối với nội dung và hình thức của hoạt động phòng chống HIV/AIDS.

+ Nội dung đấu tranh tiêu diệt các tụ điểm mại dâm và tiêm chích ma túy được sinh viên hứng thú nhất,( = 2,41, xếp bậc 1)

+ Nội dung tuyên truyên các kiến thức về HIV/AIDS, tác hại và các biện pháp phòng chống = 2,30, xếp bậc 2. Các nội dung khác sinh viên ít hứng thú hơn.

+ Hình thức tổ chức các cuộc thi vẽ tranh, sáng tác logo, thơ, tiểu phẩm hài, kịch được sinh viên hứng thú nhất, = 2,25, xếp bậc 1

+ Hình thức tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn về công tác phòng chống HIV/AIDS; tuyên truyền bằng miệng như tổ chức các buổi nói chuyện, sinh hoạt nhóm…cùng xếp bậc 2, = 2,15

+ Hình thức nêu gương người tốt việc tốt xếp bậc 3, = 2,12. Các hình thức khác sinh viên ít hứng thú hơn.

2.4. Hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường ĐHSP Đà Nẵng thể hiện qua tính tích cực trong hoạt động (xem bảng 9, 10)

Hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường ĐHSP Đà nẵng biểu hiện qua tính tích cực trong hoạt động thấp. Sinh viên tham gia thường xuyên và tích cực với những nội dung và hình thức gần gũi với bản thân mình.

+ Nội dung được sinh viên tham gia thường xuyên nhất là tuyên truyền các kiến thức, các biện pháp phòng chống HIV/AIDS (= 2,08, xếp bậc 1)

+ Nội dung xã hội hóa công tác phòng, chống HIV/AIDS cùng với xây dựng nếp sống văn hóa ((= 2,0, xếp bậc 2). Các nội dung còn lại sinh viên ít tham gia hơn.

+ Hình thức được sinh viên tham gia nhiều nhất là nêu gương người tốt vệc tốt (= 1,88, xếp bậc 1)

+ Hình thức các buổi hội thảo, tập huấn về công tác phòng chống HIV/AIDS xếp thứ 2 (= 1,66 ). Các hình thức khác mức độ tham gia của sinh viên ít hơn.

+ Nội dung sinh viên tham gia tích cực nhất là nêu gương người tốt, việc tốt (= 1,01, xếp bậc 1); tuyên truyền bằng miệng như tổ chức các buổi nói chuyện, sinh hoạt nhóm, xếp bậc 2 (= 1,0 ).

+ Hình thức sinh viên tham gia tích cực nhất là: Tuyên truyền bằng miệng như tổ chức các buổi nói chuyện, sinh hoạt nhóm (= 1,0, xếp bậc 1 ), xếp bậc 2 là nêu gương người tốt, việc tốt. Các nội dung và hình thức khác sinh viên tham gia ít tích cực hơn.

3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên

+ Tăng cường khả năng nhận thức sâu sắc đầy đủ về HIV/AIDS, giúp sinh viên ý thức được tầm quan trọng, tác dụng của việc tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS

+ Luôn luôn đổi mới và các nội dung của hoạt động phòng chống HIV/AIDS để tạo ra sự thích thú, hào hứng của sinh viên khi tham gia.

+ Đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia hoạt động và việc học tập của mỗi sinh viên.

+ Đánh giá mức độ hứng thú của từng sinh viên từ đó có những tác động phù hợp cho từng nhóm sinh viên.

Phần kết luận

Kết luận

Việc thực hiện đề tài một mặt giúp nắm bắt được mức độ hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên. Đó là cơ sở đề xuất các biện pháp phù hợp để hình thành và nâng cao hứng thú tham gia hoạt động này ở mỗi sinh viên. Từ đó nâng cao nhận thức về HIV/AIDS, các biện pháp phòng chống để cùng chung tay với xã hội đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm này.

Thực tế điều tra cho thấy phần lớn sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động, có sự yêu thích với hoạt động này, tuy nhiên giữa nhận thức và hành động lại có sự mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do sinh viên chưa ý thức được mục đích, ý nghĩa của việc tham gia hoạt động, và do ban tổ chức chưa biết cách lôi cuốn sinh viên tham gia.

Chúng ta chỉ thực sự hứng thú với những gì mới lại và hấp dẫn ta. Điều này đặt ra yêu cầu đối với ban tổ chức phải luôn tạo ra những điều mới, hấp dẫn lý thú để sinh viên thích thú khi tham gia hoạt động. Bên cạnh đó việc giáo dục để sinh viên hiểu về mục đích, ý nghĩa của hoạt động này cũng rất quan trọng. Những kết quả thu được từ đề tài hi vọng sẽ cung cấp một phần nào đó những cơ sở để thực hiện tốt, có hiệu quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng, xã hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cao Thị Huyền( 2009), Thái độ đối với việc học tập môn tâm lí học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, Luận văn tốt nghiệp, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.

[2] Lê Thị Bừng( 2000), Các thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, NXB Đại học Sư phạm.

[3] Lê Văn Hồng( 2007), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội.

[4] Th.s. Lê Nhị Hà (2004), Đề cương bài giảng Tâm lý học phát triển, Đại học Sư phạm Đà Nẵng

[5] Nguyễn Văn Luỹ, Lê Quang Sơn( đồng Chủ biên)(2009), Từ điển Tâm lý học, NXB Giáo Dục Việt Nam.

[6] Nguyễn Quang Uẩn(2007), Tâm lý học Đại cương, NXB Đại học quốc gia Hà Nội. .

[7] TS. Nguyễn Văn Đồng( 2007), Tâm lí học phát triển( giai đoạn thanh niên đến tuổi già), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.

[8] Nguồn internet, Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 ( QQ số 36/2004/QĐ – TTG ngày 17 tháng 3 năm 2004 của thủ tướng chỉnh phủ.)

[9] Tâm lý học.net


Toàn văn báo cáo, Tóm tắt bài báo 5 trang, tải về tại đây

Keyword(s):
:

THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HÀNH VI BẤT THƯỜNG CHO HỌC SINH

CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN

-THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

ACTUAL SITUATION MANAGEMENT OF UNWONTED BEHAVIOUR OF TITELLECTUAL DISABILITY PUPILS AT HAIVAN PRIMARY SCHOOL

– DANANG CITY

SVTH: Lê Thị Phương

Lớp 07SDB, Khoa Tâm li – giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: Th.S Bùi Văn Vân

Khoa Tâm li – giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Quản lí hành vi bất thường cho học sinh chậm phát triển trí tuệ là một vấn đề vô cùng quan trọng. Trong đề tài, chúng tôi đề cập đến cơ sở lí luận về quản lí hành vi bất thường và kết quả nghiên cứu thực trạng quản lí hành vi bất thường cho học sinh chậm phát triển trí tuệ tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng

ABSTRACT

Managing unwonted behaviour of intellectual disability pupils is an extremely important problem. The topic deals with theorical bases about managing unwonted behaviour and the research result about actual situation management of unwonted behaviour upon intellectual disability pupils at Haivan primary school – Danang city

1. Mở đầu

1.1. Đặt vấn đề

 Các hành vi bất thường gây ra rất nhiều khó khăn cho giáo viên và học sinh trong lớp.

 Quản lí HVBT: giúp trẻ hạn chế và khắc phục dần những hành vi không mong muốn, hình thành những hành vi tích cực, giúp cho tiết học không bị gián đoạn, không làm ảnh hưởng tới học sinh xung quanh, hiệu quả giảng dạy được đảm bảo. Thực tế giáo dục đã chỉ rõ: ở nơi nào việc quản lí HVBT cho trẻ CPTTT được thực hiện tốt thì ở nơi đó chất lượng GDHN được nâng cao.

 Trường Tiểu học Hải Vân là một trong những ngôi trường thực hiện GDHN từ rất sớm và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc quản lí HVBT cho học sinh CPTTT tại trường còn gặp một số hạn chế . Vì vậy, muốn khắc phục được những hạn chế trên đòi hỏi chúng ta phải đánh giá đúng thực trạng.

 Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn như trên, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng quản lí hành vi bất thường cho học sinh chậm phát triển trí tuệ tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng” làm công trình nghiên cứu khoa học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu: Điều tra thực trạng quản lí HVBT cho học sinh CPTTT tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lí luận về quản lí HVBT của học sinh CPTTT

Nghiên cứu thực trạng quản lí HVBT cho học sinh CPTTT học hòa nhập tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích và tổng hợp lí thuyết, phân loại và hệ thống hóa lí thuyết.

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp phỏng vấn, trò chyện, phương pháp nghiên cứu hồ sơ.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lí luận

1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan tới đề tài

1.2 Trẻ chậm phát triển trí tuệ

 Trong phần này chúng tôi chúng tôi trình bày những vấn đề sau: khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ, nguyên nhân gây ra tật chậm phát triển trí tuệ, đặc điểm của trẻ chậm phát triển trí tuệ

1.3 Hành vi bất thường của trẻ chậm phát triển trí tuệ

 HVBT được xác định dựa trên 3 căn cứ: biểu hiện qua vận động cơ thể, biểu hiện bằng sự im lặng, biểu hiện bằng âm thanh, lời nói.

HVBT ở trẻ CPTTT gồm 2 loại: hành vi hướng nội và hành vi hướng ngoại.

1.4. Quản lí hành vi bất thường cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

 Quản lí HVBT là việc các chuyên gia, các nhà sư phạm sử dụng các biện pháp, cách thức để khắc phục những hành vi không mong muốn, hình thành ở trẻ những hành vi mong muốn.

 Các biện pháp quản lí HVBT cho trẻ CPTTT: sử dụng quy định của lớp học, tạo môi trường giao tiếp có hiệu quả, sử dụng các phương pháp dạy học có hiệu quả, tạo hành vi nhóm tích cực, một số cách đơn giản và hiệu quả, tăng hành vi mong muốn, giảm thiểu những hành vi không mong muốn, sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong quản lí hành vi của trẻ

2.2. Nghiên cứu thực tiễn

2.2.1. Thực trạng HVBT của học sinh CPTTT tại trường Tiểu học Hải Vân- thành phố Đà Nẵng

 Nhìn chung các trẻ đều có sức khỏe bình thường, vận động bình thường, tuy nhiên sự tập trung chú ý của trẻ kém. Đi kèm sự không chú ý của trẻ là trẻ quên nhanh những gì vừa mới tiếp thu.

 Hành vi mà các trẻ thường biểu hiện nhất là: ngồi không yên, gật gù, lắc người; vận động tay chân liên tục; làm phiền trẻ khác; cử động, vặn vẹo; đi lại, ra vào tự do trong lớp. Các hành vi này là hành vi hướng ngoại gây phiền nhiễu cho những người xung quanh trẻ.

 Trong 14 trẻ chúng tôi khảo sát thì có tới 11 trẻ có biểu hiện chậm chạp, đây là một khó khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.

2.2.2. Nhận thức của giáo viên về quản lí HVBT cho học sinh CPTTT

 Các giáo viên đã thấy được tầm quan trọng của việc quản lí HVBT cho trẻ.

 Hầu hết các giáo viên đều nhận thức được tính cần thiết phải sử dụng các biện pháp để quản lí HVBT của trẻ .

2.2.3. Thực trạng quản lí HVBT cho học sinh chậm phát triển trí tuệ tại trường Tiểu học Hải Vân – thành phố Đà Nẵng.

 Hầu hết các giáo viên đều đã sử dụng các biện pháp quản lí HVBT cho học sinh CPTTT.

 Các biện pháp giáo viên thường xuyên sử dụng : sử dụng các phương pháp dạy học có hiệu quả, sử dụng các quy định của lớp học, tạo môi trường giao tiếp có hiệu quả, tăng hành vi mong muốn. Biện pháp mà giáo viên ít sử dụng nhất là tạo hành vi mong muốn.

 Ngoài các biện pháp trên, qua quan sát và trò chuyện với giáo viên, chúng tôi thấy rằng giáo viên còn sử dụng biện pháp là xây dựng vòng tay bạn bè, nêu gương, đôi bạn cùng tiến.

 Có 85,7% giáo viên nhận thức đúng đắn về ảnh hưởng của các yếu tố này.

 Khi các giáo viên sử dụng các biện pháp để quản lí HVBT cho trẻ CPTTT thì thái độ của trẻ có hợp tác nhưng không cao, điều này dẫn tới hiệu quả của các biện pháp mang lại chưa cao

 Khi sử dụng các biện pháp để quản lí HVBT cho học sinh CPTTT hiệu quả mang lại chưa cao. Học sinh còn có các biểu hiện làm mất trật tự, ảnh hưởng tới các học sinh khác

 Có 2 giáo viên cho ý kiến rằng khi sử dụng biện pháp sử dụng các quy định của lớp học thì không mang lại hiệu quả.

 Trong quá trình quản lí HVBT cho trẻ CPTTT thì các yếu tố: giáo viên, chính bản thân trẻ CPTTT, bạn bè trẻ CPTTT, gia đình, môi trường lớp học đều có những ảnh hưởng nhất định tới hiệu quả sử dụng các biện pháp quản lí HVBT cho trẻ CPTTT. Có 85,7% giáo viên nhận thức đúng đắn về ảnh hưởng của các yếu tố này. Chỉ có 14,3% giáo viên cho rằng yếu tố giáo viên ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của các biện pháp quản lí HVBT. Việc xác định đúng đắn các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của các biện pháp quản lí HVBT là cơ sở để giáo viên sử dụng các biện pháp phù hợp đối với từng trẻ, sử dụng một cách linh hoạt và hiệu quả, biết phát huy những yếu tố tích cực, loại trừ, phòng ngừa những yếu tố tiêu cực

2.2.4. Những khó khăn của giáo viên trong quá trình sử dụng các biện pháp quản lí HVBT cho trẻ CPTTT.

 Qua quá trình tìm hiểu thực tế và trao đổi với giáo viên chúng tôi nhận thấy một số khó khăn mà giáo viên gặp phải như sau:

 * Các giáo viên đều cảm thấy khó khăn vì không có sự hỗ trợ từ phía gia đình trẻ CPTTT. Hầu hết hoàn cảnh của gia đình trẻ CPTTT khó khăn, không có điều kiện và thời gian để quan tâm tới trẻ.

 * Các giáo viên không biết nhiều về vấn đề vấn đề quản lí HVBT cũng như các biện pháp để quản lí HVBT cho trẻ. Cả 7 giáo viên tham gia dạy hòa nhập trẻ CPTTT chưa có trình độ chuyên môn về trẻ CPTTT. Chỉ có 2 giáo viên được tham gia khóa tập huấn về công tác hòa nhập trẻ khuyết tật.

 * Giáo viên không có thời gian để tìm hiểu đánh giá trẻ và lập kế hoạch hỗ trợ trẻ CPTTT.

 * Sự thiếu hợp tác của trẻ. Đây cũng là điều làm cho giáo viên dễ nản lòng nhất.

3. Kết luận và khuyến nghị

3.1. Kết luận

Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi có thể đưa ra một số kết luận sau:

- Trẻ CPTTT học tại trường thường xuyên có các HVBT như gây tiếng động lạ trong lớp, đi lại tự do trong lớp học, làm phiền các trẻ khác…

- Khi trẻ tham gia môi trường hòa nhập các hành vi đó của trẻ CPTTT sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giảng dạy, tới không khí lớp học, tới các học sinh xung quanh và đặc biệt là ảnh hưởng tới kết quả học tập của trẻ.

- Hầu hết các giáo viên đã có nhận định đúng về sự cần thiết phải sử dụng các biện pháp để quản lí HVBT cho trẻ CPTTT

- Hầu hết các giáo viên dạy học hòa nhập ở trường đều là những giáo viên học chuyên ngành tiểu học, chưa được đào tạo chuyên sâu về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, nên vẫn có một số hạn chế nhất định trong nhận thức của giáo viên về các vấn đề của trẻ CPTTT cũng như biện pháp giáo dục trẻ CPTTT.

3.2. Khuyến nghị

3.2.1 Đối với BGH nhà trường

- BGH cần có những biện pháp động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời cho các giáo viên trong công tác giáo dục hòa nhập trẻ CPTTT nói chung và quản lí HVBT cho trẻ CPTTT nói riêng.

- Cần bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp tài liệu để nâng cao kiến thức và kĩ năng cho giáo viên tham gia giáo dục hòa nhập trẻ CPTTT, kĩ năng quản lí HVBT cho trẻ CPTTT. Tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm, phương pháp, kĩ năng giữa các giáo viên trong trường.

3.2.2. Đối với giáo viên

- Không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức chuyên môn về giáo dục hòa nhập nói chung và trẻ CPTTT nói riêng.

- Cần xây dựng được môi trường lớp học thân thiện, gần gũi giữa các học sinh để giáo viên có thêm sự trợ giúp từ phía các học sinh bình thường trong công tác giáo dục trẻ khuyết tật.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Văn Bích (chủ biên), (2006), Giáo dục hòa nhập trẻ chậm phát triển trí tuệ cấp tiểu học, NXB Lao động Xã hội.

2. Nguyễn Thị Hiền, (2008), Biện pháp rèn luyện kĩ năng xã hội cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.

3. Lê Văn Tạc (chủ biên), Bùi Thế Hợp (biên soạn), (2006), Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học, NXB giáo dục.

4. Chu Bích Thu (chủ biên), (2007), Từ điển Tiếng việt phổ thông, NXB Phương Đông

5. Bùi Văn Vân, (2010), Đề cương bài giảng Đại cương về trẻ chậm phát triển trí tuệ, Khoa Tâm lí – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.

Toàn văn báo cáo, tóm tắt bài báo 5 trang, tải về tại đây

Keyword(s):
:

THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU DOSAHO TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƯỜNG PTCB NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU – TP.ĐÀ NẴNG

THE REALITY OF APPLYING “CLINICAL DOHSA METHOD” IN REHABILITATING FOR THE DISABLED CHILDREN AT NGUYEN DINH CHIEU SPECIALTY SCHOOL IN DA NANG CITY

SVTH: Phan Xuân Thông, Lê Thị Diệu Hạnh

Lớp 07SDB, Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: ThS. Bùi Văn Vân

Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Phương pháp Dosaho là một phương pháp trị liệu mới trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Việt Nam. Mục đích chính của đề tài này là nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – TP.Đà Nẵng và đánh giá kết quả ban đầu của phương pháp này dựa vào những trẻ khuyết tật được trị liệu. Từ kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng của phương pháp trị liệu Dosaho, góp phần vào việc xây dựng mô hình trị liệu trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướng lâu dài tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và tại các cơ sở có trẻ khuyết tật ở Việt Nam nói chung.

SUMMARY

Dohsa method is a new therapy in rehabilitating for disabled children in Vietnam. The major aims of this scientific reseach are to do a research the reality of applying “Clinical Dohsa Method” in rehabilitating for the disabled children at Nguyen Dinh Chieu Special School in Danang city and to evaluate its initial effects based on treated disable children. From the result of research, we can present measures which improve the effects of applying “Clinical Dohsa Method” that establish therapeutic forms in rehabilitating for disabled children through “Clinical Dohsa Method” in long term not only in Nguyen Dinh Chieu Special School but also in the whole Vietnam disable children centres.

1. Mở đầu

1.1. Đặt vấn đề

Việc khiếm khuyết một số chức năng hay bộ phận đã khiến người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng thường phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khó chịu do sự ức chế hoạt động do di chứng của khuyết tật gây nên. Do đó, việc vận dụng những phương pháp trị liệu nhằm giúp trẻ giảm bớt những cảm giác đau đớn, khó chịu và sự ức chế trong cơ thể giúp trẻ có cảm giác thoải mái và dễ chịu hơn là hết sức cần thiết. Từ đó, dần phục hồi một số chức năng cho trẻ khuyết tật trong việc vận động, di chuyển và tự phục vụ.

Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp.Đà Nẵng là một trong những cơ sở có số lượng trẻ khuyết tật lớn tại thành phố Đà Nẵng. Trong nhiều năm qua, trường đã nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của nhiều tổ chức trong và ngoài nước thông qua các chương trình, dự án về chăm sóc, giáo dục và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật. Trong số những chương trình đó, có chương trình tập huấn “Phương pháp vận động lâm sàng dành cho trẻ khuyết tật” (gọi là Phương pháp trị liệu Dosaho) do Nhóm chuyên gia Nhật Bản phối hợp với Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng thực hiện. Phương pháp này đang mở ra một hướng mới trong phụ hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và tại các cơ sở có trẻ khuyết tật ở Việt Nam nói chung.

Việc khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phụ hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu sẽ là cơ sở thực nghiệm quan trọng giúp định hướng việc phát triển phương pháp này theo hướng lâu dài tại Việt Nam.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, các khái niệm công cụ của đề tài. Đồng thời, tiến hành dịch một số tài liệu về phương pháp Dosaho.

1.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp phỏng vấn

 Tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên theo 2 hình thức để khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho.

* Phương pháp quan sát

 Sử dụng phiếu quan sát để đánh giá thực trạng tiến hành thực hiện phương pháp Dosaho. Quan sát để đánh giá sự tiến bộ của trẻ.

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

 Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy, hồ sơ trẻ được lập vào tháng 9/2010.

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

 Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động để đánh giá tình trạng hiện tại của 6 trẻ điển hình. Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếu với hồ sơ trước đây.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lý luận

2.1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1.2. Một số vấn đề chung về trẻ khuyết tật

2.1.3. Một số vấn đề chung về trị phục hồi chức năng

2.1.4. Phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

2.2. Nghiên cứu thực tiễn

2.2.1. Khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu về phương pháp Dosaho

* Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho

Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho là 9, trong tổng số 52 cán bộ giáo viên của trường. Đáng chú ý là đã có 4 giáo viên tham gia đầy đủ 4 đợt tập huấn và 1 giáo viên tham gia 3 đợt tập huấn.

* Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu về phương pháp trị liệu trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.

 Kết quả khảo sát cho thấy, 100% giáo viên được hỏi đều đánh giá cao vai trò của phục hồi chức năng trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu.

 Kết quả khảo sát vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho cho thấy cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu cũng đánh giá cao phương pháp này. Cụ thể có 77,8% cán bộ giáo viên được phỏng vấn cho rằng quan trọng và 22,2% cán bộ giáo viên cho rằng rất quan trọng.

 Qua khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên về phương pháp Dosaho. Có 77,8% cán bộ giáo viên cho rằng Dosaho là một phương pháp tâm vận động, 11,1% lại cho rằng Dosaho là một phương pháp vật lý trị liệu. Ngoài ra, cũng có 11,1 % ý kiến cho rằng, đó là sự kết hợp giữa phương pháp mát – xa với phương pháp vật lý trị liệu.

Nhận xét về điểm nổi bật của phương pháp Dosaho, 100% cán bộ giáo viên đều cho rằng đó là sự kết hợp giữa tâm lý và vận động.

* Những khó khăn thường gặp phải khi vận dụng phương pháp Dosaho

Biểu đồ 2: Thể hiện những khó khăn gặp phải

* Nguyện vọng của cán bộ giáo viên

 Kết quả khảo sát cho thấy 100% cán bộ giáo viên đều muốn được tiếp tục tham gia học. Tuy nhiên, cán bộ giáo viên cũng có những đòi hỏi cụ thể như phải đào tạo bài bản, dài hạn; phải được thực hành nhiều hơn; đào tạo ở Nhật Bản.

2.2.2. Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng tại các phòng

* Các lớp học

Thời gian các giáo viên tập luyện Dosaho cho trẻ trong các giờ học là rất ít, số lượng trẻ được tập luyện cũng không nhiều. Tuy nhiên, tất cả giáo viên khẳng định học sinh rất hứng thú khi được tập luyện Dosaho.

* Phòng y tế

 Phòng y tế của Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu được trang bị nhiều thiết bị hỗ trợ trẻ trong việc luyện tập vận động. Sau khi được tham gia tập huấn phương pháp Dosaho, cán bộ y tế đã vận dụng phương pháp trị liệu này đan xen với các phương pháp khác như phương pháp vật lý trị liệu, mát – xa, tâm vận động. Cách làm này đang mang lại hiệu quả rõ rệt, trẻ rất hứng thú với các bài tập kết hợp này. Ngoài ra, cán bộ y tế cũng thừa nhận 3 dạng biểu hiện sau của trẻ:

- Nếu chỉ tập luyện phương pháp vật lý trị liệu cho trẻ thì trẻ cảm thấy mệt, nhưng vẫn hứng thú.

- Nếu chỉ tập luyện phương pháp trị liệu Dosaho cho trẻ thì trẻ cảm thấy ít hứng thú và không hợp tác.

- Nếu tập luyện xen kẽ phương pháp vật lý trị liệu với phương pháp trị liệu Dosaho cho trẻ thì trẻ rất hứng thú.

Chính vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ và kế hoạch chữa trị của cán bộ y tế, chúng tôi nhận thấy cán bộ y tế đã xen kẽ phương pháp vật lý trị liệu với phương pháp Dosaho. Bảng theo dõi tiến triển cũng cho thấy sự tiến bộ ở trẻ khi vận dụng xen kẽ 2 phương pháp này.

* Phòng giáo dục cá nhân

 Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu có 2 giáo viên dạy tại các phòng giáo dục cá nhân. Trong 2 giáo viên đó, có 1 giáo viên được tập huấn Dosaho và đã vận dụng phương pháp này cho trẻ. Giáo viên đó chia sẻ “Từ khi học được phương pháp trị liệu Dosaho, hầu như tiết dạy nào tôi cũng vận dụng một đến hai bài tập cho trẻ. Kết quả là học sinh hứng thú với tiết học hơn và tôi cũng cảm thấy thích thú”.

2.2.2. Khảo sát kết quả của phương pháp trị liệu Dosaho trong để phục hồi chức năng cho trẻ

 Tiến hành nghiên cứu 6 trẻ điển hình, kết quả cho thấy 6/6 trẻ đều có sự tiến bộ rõ rệt. Trong đó, có 5 trong 6 trẻ tiến bộ rõ rệt và 1 trong 6 trẻ có tiến bộ không rõ rệt. Đáng lưu ý, có 1 trẻ trong 5 trẻ trên có sự tiến bộ lớn nhờ kết hợp giữa phương pháp vật lý trị liệu với phương pháp trị liệu Dosaho.

3. Kết luận

3.1. Kết luận

Qua việc nghiên cứu tài liệu và thực tiễn của đề tài cho phép chúng tôi rút ra các kết luận sau:

Đội ngũ cán bộ giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của trị liệu trong phục hồi chức năng nói chung và phương pháp trị liệu Dosaho nói riêng trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật.

Số lượng cán bộ giáo viên biết và vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho còn ít, kiến thức và kĩ năng sử dụng các bài tập Dosaho còn hạn chế. Các cán bộ giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện.

Phương pháp trị liệu Dosaho đã được vận dụng tại nhiều phòng chức năng khác nhau tại trường.

Số lượng trẻ khuyết tật được trị liệu Dosaho bằng phương pháp còn ít, nhưng bước đầu đã cho thấy hiệu quả của phương pháp này.

 Việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức cho trẻ khuyết tật là một hướng mới của Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp.Đà Nẵng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng những kết quả ban đầu đã cho chúng ta một cái nhìn lạc quan về sự phát triển của phương pháp này trong tương lai.

3.2. Đề xuất

 Cần tổng hợp những tài liệu có được, kết hợp với kiến thức thu được từ các đợt tập huấn phương pháp trị liệu Dosaho để xây dựng một cuốn tài liệu đơn giản nhằm hỗ trợ và nâng cao hiểu biết của cán bộ giáo viên.

 Tiếp tục hợp tác đào tạo, tìm nguồn hỗ trợ để tạo điều kiện cho các cán bộ giáo viên được tham gia các đợt tập huấn Dosaho tiếp theo ở trong nước và các khóa huấn luyện tại Nhật Bản nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ giáo viên có kiến thức và kĩ năng về Dosaho.

 Xây dựng trung tâm trị liệu Dosaho ngay trong Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu để đáp ứng nhu cầu trị liệu của trẻ khuyết tật.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]  TS. Nguyễn Thị Xuyên (2008), Hướng dẫn quản lý và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Hà Nội.

[2] PGS.TS. Vũ Thị Bích Hạnh, Tự kỷ - Phát hiện và can thiệp sớm, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội.

[3] PGT.TS. Cao Minh Châu, TS. Vũ Thị Bích Hạnh, BS. Nguyễn Thị Minh Thủy (2004), Một số dạng tật thường gặp ở trẻ em – Cách phát hiện và phát hiện trẻ, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội.

[4] PGT.TS.Cao Minh Châu, ThS.Nguyễn Thanh Huyền, BSCKII. Đỗ Thúy Lan, ThS. Đỗ Thị Kim Liên (2002), Phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại gia đình, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội.

Toàn văn báo cáo, Tóm tắ bài báo 5 trang, Báo cáo PP, Minh họa... Tải về tại đây

Keyword(s):

A

:

DANH SÁCH CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2010-2011

TT

Tên đề tài

SV. Thực hiện

Lớp

Cán bộ hướng dẫn

Ghi chú

1

Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Doshaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – TP Đà Nẵng

Phan Xuân Thông

Lê Thị Diệu Hạnh

07SDB

ThS. Bùi Văn Vân


2

Thực trạng quản lý hành vi bất thường cho học sinh chậm phát triển trí tuệ tại trường Tiểu học Hải Vân – TP Đà Nẵng

Lê Thị Phương

07SDB

ThS. Bùi Văn Vân


3

Hứng thú học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Quảng Nam

Lê Thị Kim Chi

Trần Thị Kim Ngân

07CTL

ThS. Lê thị Phi


4

Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng

Vũ Ngọc Duy

Đặng Lai Thao

07CTL

09CTL

ThS. Tô Thị Quyên


5

Đề xuất mô hình nâng cao kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm cho giáo viên trường THCS Huỳnh Thúc Kháng – TP Đà Nẵng trên cơ sở nghiên cứu thực trạng

Đặng Thị Bích Hoàn

Nguyễn Thị Linh

07CTL

ThS. Phạm thị Mơ


6

Hứng thú tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Trần Thị Thanh

07CTL

ThS. Bùi Văn Vân


7

Thái độ của học sinh trường THPT Trần Phú – Quận Hải Châu – TP Đà Nẵng đối với bạo lực học đường

Ngô Hoàng Anh

07CTL

ThS. Phạm thị Mơ



Keyword(s):
:


DANH SÁCH SINH VIÊN

THAM GIA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2010

Khoa Tâm lí - Giáo dục

STT

Tên đề tài

Sinh viên thực hiện

Lớp

Người hướng dẫn

1

Nghiên cứu nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ mồ côi sống tại trung tâm

Nguyễn Thị Phương Trang

06 CTL

ThS: Tô Thị Quyên


nuôi dưỡng trẻ mồ côi và khó khăn thành phố Đà Nẵng. (Làng hi vọng)





2

Nghiên cứu hành vi tham gia giao thông của sinh viên trường Đại học Sư

Ngô Thị Lệ Thủy

06 CTL

TS Lê Quang Sơn


phạm - Đại học Đà Nẵng





3

Thực trạng nghiện Internet và mối quan hệ của nó với kiểu khí chất của

Bùi Thị Huệ

06 CTL

ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân


thanh thiếu niên trên địa bàn Quận Hải Châu - Thành phố Đà Nẵng

Nguyễn Trọng Thuận

06 CTL





Nguyễn Thị Thanh Hằng

07 CTL





Lê Thị Nhung

07 CTL





Trương Thị Thiên

07 CTL



4

Nhận thức của người Việt Nam về người khuyết tật qua một vài câu

Phạm Thị Ánh Tuyết

07 SDB

CN. Lê Thị Hằng


chuyện cổ tích Việt Nam





5

Mức độ biểu hiện stress của sinh viên trường Đại học Sư phạm -

Vũ Ngọc Duy

07 CTL

ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân


Đại học Đà Nẵng

Nguyễn thị Mỹ Trang

07 CTL





Ngô Hoàng Anh

07 CTL



6

Biên soạn tài liệu dành cho cha mẹ trẻ khiếm thính trong chương trình

Lê Thị Giang

06 SDB

TS. Huỳnh Thị Thu Hằng


can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính từ 0 - 3 tuổi trên địa bàn thành phố






Đà Nẵng





Keyword(s):
Danh_sach_sv_NCKH_09.doc
:


DANH SÁCH SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

năm 2009

STT

Họ và Tên sinh viên

Lớp

Tên đề tài

Người hướng dẫn

1

Trần Thi

Hoa

05 CTL

Quan niệm về hạnh phúc gia đình của sinh viên trường ĐHSP – ĐHĐN

Ths. Phạm Thị Mơ

2

Nguyễn Công

Hậu

06 CTL

Nghiên cứu hành vi hút thuốc lá của nam sinh viên trường ĐHSP - ĐHĐN

TS. Lê Quang Sơn

3

Nguyễn Thanh

Hùng

4

Trần Danh

Long

5

Nông Thị Hương

6

Ngô Thị Lệ

Thủy

7

Trần Thị

Ngân

06 CTL

Tìm hiểu động cơ học tập của sinh viên trường ĐHSP - ĐHĐN

TS. Lê Quang Sơn

8

Trần Thị Thanh

Xuân

9

Nguyễn Phương

Thảo

10

Nguyễn Thị Thu

Trang

11

Nguyễn Thị Phương

Trang

12

Mai Ngọc

Toàn

06CTL

Đánh giá mức độ lo âu của học sinh khối lớp 10 và lớp 12 trường THPT Nguyễn Thượng Hiền. Quận Liên Chiểu – Đà Nẵng

Ths Lê Thị Phi

13

Ngô Thị Minh

Tâm

14

Nguyễn Thị Bảo

Trâm

15

Nguyễn Thị Kiều

Trang

16

Nguyễn Lập

Trường

17

Bùi Thị

Huệ

06 CTL

Bước đầu nghiên cứu thực trạng “nghiện Internet” của học sinh THCS trên địa bàn quận Hải Châu và Liên Chiểu Đà Nẵng

Ths. Nguyễn Thị Kim Xuân

18

Võ Thị

Nhã

19

Nguyễn Thị Thanh

Hằng

20

Vũ Thị Thu

Hiền

06CTL

Thực trạng thái độ của sinh viên trường ĐHSP – ĐHĐN đối với vấn đề “sống thử” trong sinh viên.

TS. Lê Quang Sơn

21

Nguyễn Thị

Hồng

22

Bùi Thị Mỹ

Thọ

23

Lê Thị Thúy

Huyền

24

Hoàng Thị

Quang

25

Nguyễn Thị

Hoa

06CTL

Tìm hiểu mức độ trầm cảm ở người già sống trong trung tâm bảo trợ xã hội Đà Nẵng.

Ths. Nguyễn Thị Kim Xuân

26

Nguyễn Thị

Sánh

Keyword(s):

B

Nghien_cuu_thuc_trang_nghien_internet_cua_hoc_sinh_THCS.tom_tat.doc
:

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG “NGHIỆN INTERNET” CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU VÀ QUẬN LIÊN CHIỂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

RESEARCH INITIAL ABOUT SITUATION “ INTERNET ADDICTION” OF STUDENT SECONDARY SCHOOL FROM HAI CHAU DISTRICT AND LIEN CHIEU DISTRICT – DA NANG CITY

GVHD : Th.S Nguyễn Thị Kim Xuân

SVTH : Bùi Thị Huệ

Võ Thị Nhã

Nguyễn Thị Thanh Hằng

NHÓM NGÀNH : XH2B

LỚP : 06CTL

Tóm tắt

Sự ra đời của internet đã đánh dấu một bước tiến lớn của nhân loại trong lĩnh vực kết nối thông tin toàn cầu. Không ai có thể phủ nhận tính tích cực và vai trò quan trọng của nó trong quá trình phát triển của xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó đã nảy sinh những vấn đề phức tạp, trong đó có tình trạng” nghiện internet”- Căn bệnh mới của xã hội hiện đại.

Đối tượng của internet có một bộ phận không nhỏ là lứa tuổi thanh thiếu niên. Ngày nay, thời gian mà giới trẻ dành cho internet gây ra tâm lý lo sợ cho các bậc phụ huynh. Mục đích lên mạng của trẻ là chát trực tiến, gởi e-mail, chơi game online, trở thành hanker phá hại…Khi sử dụng internet chúng bị lôi cuốn, say mê bởi những điều mới lạ dẫn đến tình trạng mất ăn mất ngủ. Điều này ảnh hưởng đến sức khoẻ và năng lực học tập, trẻ bắt đầu có những hành vi cư sử kì lạ, sự phát triển tâm sinh lí bị rối loạn, chúng rơi vào chứng bệnh “nghiện internet”.

Summary

To bring of internet mark a langer stepforward of the human into fielt put worldwide information. Nobody can’t disclaim positiveness and important reponsiable of internet in develop process of society. However, the complicated problems was appeared. Inthere have a stuation “ internet addiction”- a new disease of modern society.

Beneficiary of internet was the most teenage. Nowaday, the time which young people reserve for internet made anxious mentally for their parent. The most internet purpost of teenage was immediate, play online, send to e-mail, become a minhanker…When young people used to internet, they was crazied about new something that cause was unneasy about something. This stuation effect to their heathty and ability for study, the young people have uncanny behave, the develop of mentally and physically was diseased. They was falled a disease” Internet addiction”.



Keyword(s):

Page:  1  2  (Next)
  ALL